Xu Hướng 2/2024 # Thuyết Minh Về Nha Trang ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Về Nha Trang ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Ppvf.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thuyết Minh Về Nha Trang ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất ✅ Những Mẫu Văn Đặc Sắc Chia Sẻ Về Các Cảnh Đẹp, Địa Danh Nổi Tiếng Tại Đây.

Mở bài: Biển Nha Trang là một danh thắng nổi tiếng ở nước ta nơi có cảnh biển vô cùng đẹp

Thân bài:

Nêu lịch sử hình thành

Các đặc điểm của danh thắng đó gồm có những bãi biển chạy dài, các nhà nghỉ, khách sạn mọc lên san sát nhau

Ý nghĩa với người dân và với đất nước: thu hút được nhiều người đến tham quan cả trong nước và ngoài nước, phát triển ngành du lịch không khói.

Góp phần khẳng định vẻ đpẹ dân tộc mình.

Nhà nước mở rộng đầu tư đẻ nơi đây phát triển tốt hơn.

Kết bài: Muốn đến biển Nha Trang để cảm nhận được vẻ đẹp nơi đây mà thiên nhiên ban tặng

SCR.VN tặng bạn 💧 Giới Thiệu Về Một Danh Lam Thắng Cảnh 💧 17 Bài Văn Hay

Bài Thuyết Minh Về Nha Trang Điểm 10 để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc với những kiến thức hay và hữu ích.

Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Nha Trang được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông, Viên ngọc xanh vì giá trị thiên nhiên, sắc đẹp cũng như khí hậu của nó.

Thành phố Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa. Phía Bắc giáp huyện Ninh Hòa, phía Nam giáp huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên Khánh, phía Đông tiếp giáp với biển.

Thành phố Nha Trang có tổng diện tích đất tự nhiên là 252,6km2, với 27 đơn vị hành chính cơ sở: 19 phường và 08 xã với dân số trên 417.474 người ( số liệu năm 2024).

Nha Trang có nhiều lợi thế về địa lý, thuận tiện về đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển trong nước và quốc tế, là cửa ngõ Nam Trung bộ và Tây Nguyên nên Nha Trang có nhiều điều kiện mở rộng quan hệ giao lưu và phát triển.

Nha Trang cách thủ đô Hà Nội 1.280km, cách thành phố Hồ Chí Minh 448km, cố đô Huế 630km, Phan Rang 105km, Phan Thiết 260km, Cần Thơ 620km.

Nha Trang có nhiều trường đại học, học viện, viện nghiên cứu, các trường cao đẳng, trường dạy nghề, các trung tâm triển khai các tiến bộ kỹ thuật chuyên ngành tương đối đồng bộ. Chính vì vậy, thành phố Nha Trang đã trở thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng của tỉnh Khánh hòa và của vùng Nam Trung bộ.

Địa hình Nha Trang khá phức tạp có độ cao trải dài từ 0 đến 900m so với mặt nước biển được chia thành 3 vùng địa hình. Vùng đồng bằng duyên hải và ven sông Cái có diện tích khoảng 81,3km², chiếm 32,33% diện tích toàn thành phố; vùng chuyển tiếp và các đồi thấp có độ dốc từ 30 đến 150 chủ yếu nằm ở phía Tây và Đông Nam hoặc trên các đảo nhỏ chiếm 36,24% diện tích, vùng núi có địa hình dốc trên 150 phân bố ở hai đầu Bắc – Nam thành phố, trên đảo Hòn Tre và một số đảo đá chiếm 31,43% diện tích toàn thành phố.

Nha Trang có khí hậu nhiết đới xavan chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26,3oC. Có mùa đông ít lạnh và mùa khô kéo dài. Mùa mưa lệch về mùa đông bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025mm). Khoảng 10 đến 20% số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 và kết thúc sớm vào tháng 11.

Chia Sẻ Bài 🌹Thuyết Minh Về Đà Nẵng ❤️️15 Bài Giới Thiệu Đà Nẵng Hay

Bài văn hay thuyết minh Giới Thiệu Về Khánh Hòa Chi Tiết được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ đến các bạn đọc sau đây.

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, giáp với tỉnh Phú Yên về hướng Bắc, tỉnh Đắk Lắk về hướng Tây Bắc, tỉnh Lâm Đồng về hướng Tây Nam, tỉnh Ninh Thuận về hướng Nam và Biển Đông về hướng Đông; có mũi Hòn Ðôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh, là điểm cực Ðông trên đất liền của nước ta.

Dân số Khánh Hòa (theo số liệu đến ngày 1-4-2011) là 1.174.848 người với 32 dân tộc đang sinh sống (Kinh, Raglai, Hoa, Ê-đê, Cơ-ho, một nhóm nhỏ dân tộc Tày, Nùng, Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ…).

Diện tích tự nhiên của Khánh Hòa, cả trên đất liền và hơn 200 đảo và quần đảo là 5.197 km2. Bờ biển dài 385 km với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, nhiều đảo và vùng biển rộng lớn. Ðặc biệt, Khánh Hòa có Trường Sa là huyện đảo, nơi có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng trọng yếu.

Khánh Hòa hiện nay bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Nha Trang và Cam Ranh), 1 thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện (Vạn Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm và huyện đảo Trường Sa) với tổng diện tích 5217,6 km².

Tỉnh Khánh Hòa nằm ở vị trí thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Khánh Hòa và các tỉnh thuận lợi nhờ đường sắt và Quốc lộ 1A xuyên suốt chiều dài của tỉnh.

Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa còn có ý nghĩa chiến lược về mặt quốc phòng, vì nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ thông ra Biển Ðông.

Khánh Hòa có bờ biển dài và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân Phong, Nha Trang,Cam Ranh… với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26⁰C, có hơn 300 ngày nắng trong năm và nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng khác.

Bên cạnh đó, Khánh Hòa còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, đặc biệt tài nguyên biển có nhiều loại hải sản quý hiếm có thể khai thác, nuôi trồng, chế biến xuất khẩu với khối lượng lớn, có yến sào, là nguồn nguyên liệu đặc biệt để xuất khẩu và bào chế các sản phẩm bổ dưỡng quý hiếm cho con người.

Ðiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hóa đã đem đến cho tỉnh Khánh Hòa một tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ. Nha Trang – Khánh Hòa hiện được xác định là một trong 10 trung tâm du lịch – dịch vụ lớn của cả nước. Tháng 5-2003, vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên chính thức của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới.

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Cần Thơ ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Cần Thơ Hay

Nha Trang là địa điểm du lịch được đông đảo du khách yêu thích bởi cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời, thời tiết ôn hòa, con người thân thiện và đặc sản phong phú.

Du lịch Nha Trang dường như mùa nào cũng hấp dẫn nhưng theo chia sẻ kinh nghiệm du lịch ở Nha Trang của nhiều du khách thì thời điểm thích hợp nhất đế đến đây nghỉ dưỡng là từ tháng 3 đến tháng 9.

Tuy nhiên, cũng chính vì lượng du khách đổ về Nha Trang trong quãng thời gian này là rất lớn nên các nhà nghỉ, khách sạn thường xuyên trong tình trạng hết phòng. Tốt nhất bạn hãy đặt phòng và vé máy bay trước để tránh mất thời gian hoặc không còn phòng để đặt.

Ngoài ra, nếu bạn không sắp xếp để đi du lịch Nha Trang trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 9 thì cũng không sao. Bởi lẽ thời tiết Nha Trang tương đối ôn hòa, không quá nóng quá lạnh như ở miền Bắc và cũng không “khó chiều” như ở miền Nam.

Sở dĩ du lịch Nha Trang luôn luôn có sức hấp dẫn đặc biệt với cả du khách trong và ngoài nước là bởi vì ở đây sở hữu nhiều bãi biển tuyệt đẹp, những hòn đảo còn hoang sơ mộc mạc,… Không những thế, du lịch Nha Trang còn mang đến vô vàn những trải nghiệm thú vị cho du khách như lặn biển ngắm san hô, đi thuyền câu mực đêm và thưởng thức tại chỗ,…

Các địa điểm, khu du lịch Nha Trang nổi tiếng nhất:

VinWonders Nha Trang: 98B/13, Trần Phú, Lộc Thọ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tiền thân là Vinpearl Land Nha Trang, VinWonders Nha Trang là một địa điểm du lịch tại Nha Trang được xây dựng theo mô hình công viên giải trí “ALL – IN – ONE” với tổng diện tích hơn 50ha, bao gồm 6 phân khu trò chơi riêng biệt: thế giới phiêu lưu, vườn thú thu nhỏ, xứ vạn hoa rực rỡ, thiên đường nhiệt đới, thế giới đại dương và thế giới diệu kỳ.

Viện Hải dương học: Số 1, Cầu Đá, Trần Phú, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đây là nơi nghiên cứu đời sống của hơn 4000 loài động thực vật biển ở Nha Trang. Ngoài ra, đây còn là nơi trưng bày bộ xương cá voi khổng lồ với chiều dài xấp xỉ 26m, cao 3m.

Đảo Hòn Mun là một trong những hòn đảo thơ mộng nhất của thành phố Nha Trang. Tại đây, du khách không chỉ được đắm mình dưới làn nước trong xanh, sải bước trên bờ cát trắng, mà còn được ngắm nhìn những tổ yến hoang sơ trên vách núi hay lặn biển chiêm ngưỡng dải san hô đầy màu sắc.

Cách trung tâm thành phố chỉ khoảng 7km, đảo Hòn Tằm là một địa điểm du lịch tại Nha Trang đốn tim du khách bằng bãi biển trong veo và hàng dừa xanh ngát chạy dài. Một số hoạt động thú vị ở đây như nhảy dù trên biển, lướt ván, mô tô nước,…

Gợi Ý Bài 🌹 Thuyết Minh Về Cao Bằng ❤️️15 Bài Giới Thiệu Cao Bằng Hay

Thuyết Minh Về Thành Phố Nha Trang Sinh Động là tài liệu tham khảo hữu ích để các em ôn tập thật tốt.

Thành phố Nha Trang nằm ở phía Đông tỉnh Khánh Hòa, thuộc miền Trung của Việt Nam. Nha Trang cách thủ đô Hà Nội 1290 km về phía Bắc, cách thành phố Cam Ranh 45km và thành phố Hồ Chí Minh 441 km về phía Nam. Toàn bộ phía Đông của thành phố giáp với biển Đông, và sở hữu rất nhiều bãi biển, vịnh biển đẹp, có giá trị du lịch cao.

Nha Trang là một thành phố ven biển, và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, và du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Bạn có thể đi du lịch Nha Trang, Khánh Hòa bằng bất kỳ phương tiện nào, bao gồm: máy bay, tàu lửa, xe buýt, xe cá nhân, hoặc du thuyền.

Nha Trang nằm trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ thuộc miền Trung của Việt Nam. Do vậy, thành phố này có khí hậu nhiệt đới xavan, với mùa khô kéo dài và không có mùa đông. Nhiệt độ trung bình năm ở Nha Trang chỉ khoảng 26 – 27oC, nên bạn hầu như có thể đi du lịch Nha Trang quanh năm, trừ mùa mưa vào những tháng cuối năm từ tháng 9 đến tháng 12.

Vì sao có tên gọi là Nha Trang? Có một vài giả thiết được đưa ra để lý giải cho tên gọi “Nha Trang”, nhưng giả thiết được cho là hợp lý và có sơ sở nhất đó là: bắt nguồn từ tiếng Chăm cổ.

Khi người Chăm còn sinh sống ở khu vực thành phố Nha Trang hiện nay, vùng đất này có nhiều cây lau sậy mọc đầu hai bên bờ sông. Hoa lau nở trắng một vùng, tạo nên cảnh tượng tuyệt đẹp. Người dân Chăm Pa đã gọi vùng đất của mình là “dòng sông lau sậy”.

Từ “Nha Trang” được cho là biến thể từ “Eatrang”, “Yatrang” hay “Jatrang”. Theo thổ âm của người Chăm, “ea”, “ya” hay “ja” đều có nghĩa là “dòng sông”, còn “trang” có nghĩa là “lau sậy”. Về sau, người Việt đã đọc chệch ra thành “Nha Trang” cho dễ phát âm.

Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết vào năm 1776, đã có nhiều tên gọi Nha Trang được sử dụng như: “đầm Nha Trang”, “dinh Nha Trang”, “nguồn Nha Trang”, “đèo Nha Trang”.

Không chỉ sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh cùng các tuyệt tác tự nhiên, Nha Trang còn thu hút bởi những hoạt động vui chơi giải trí đa dạng, mang lại niềm vui bất tận cho du khách.

Đến Nha Trang, chúng ta không thể bỏ qua VinWonders Nha Trang nằm trên đảo Hòn Tre xanh mướt. Đây là một trong những khu vui chơi có quy mô lớn nhất tại Nha Trang, và còn được biết đến với tên gọi khác là Khu du lịch Hòn Ngọc Việt (Vinpearl Land).

Đi du lịch Nha Trang mà không ghé qua Khu du lịch Yang Bay thì xem như bạn chưa biết đến Nha Trang rồi. Với độ cao 100m so với mực nước biển, thác Yang Bay nằm giữa thung lũng núi rừng của huyện Khánh Vĩnh, và được cho là rừng nguyên sinh đẹp nhất tỉnh Khánh Hòa. Đến đây, bạn không những được hòa mình vào thiên nhiên trong lành, mà còn được tham gia các hoạt động giải trí cực vui, và tìm hiểu văn hóa dân tộc Raglai nơi đây.

Gợi Ý Bài 🌵 Thuyết Minh Về Bình Dương ❤️️15 Bài Giới Thiệu Bình Dương

Bài Văn Thuyết Minh Về Biển Nha Trang Đặc Sắc giúp các em có thể học hỏi và trau dồi thêm kiến thức cho mình.

Nha Trang là một trong những thành phố biển nổi tiếng của nước ta. Nơi đây có bãi biển Nha Trang vô cùng xinh đẹp mà hàng năm vào mùa du lịch lúc nào cũng đông khách. Không chỉ du khách trong nước, du khách nước ngoài cũng rất thích được đến đây. Chẳng thế mà nơi đây được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông.

Nằm bên bờ vịnh Cam Ranh, biển Nha Trang thuộc thành phố Nha Trang của tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây có vịnh Nha Trang với diện tích 507km2, gồm có 19 hòn đảo lớn nhỏ. Những hòn đảo này cũng được nhiều người biết đến, nổi bật lên là đảo Hòn Tre với diện tích 3520ha. Đây cũng là hòn đảo có diện tích lớn nhất trong số các đảo thuộc vịnh Nha Trang.

Vì là vùng biển nên nơi đây khí hậu trong lành quanh năm. Vào mùa hè thời tiết thường mát mẻ hơn nhiều so với miền Bắc nên rất nhiều du khách chọn đây làm nơi nghỉ dưỡng. Đến với biển Nha Trang, chúng ta sẽ được tận hưởng rất nhiều điều kì diệu của thiên nhiên. Đó là bãi cát trắng mịn, đó là những hòn đảo lớn nhỏ và đó là những rặng san hô kì ảo nằm dưới lòng đại dương.

Mỗi buổi sáng, biển Nha Trang bình yên đến lạ. Nước biển xanh biếc và trong vắt. Đêm xuống, không khí trở nên sôi động hơn rất nhiều. Vì là vùng biển nhiệt đới nên ở Nha Trang hội tụ đủ các hệ sinh thái như rạn san hô, đất ngập nước, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, hệ sinh thái bãi cát ven bờ, hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái cửa sông,… Chính những điều này đã làm nên một Nha Trang rất riêng.

Đến với biển Nha Trang, du khách sẽ không thể bỏ qua được việc thăm thú những hòn đảo ở đây. Với những ai ưa khám phá đại dương hẳn sẽ thích ngắm nhìn san hô ở Hòn Mun. Tại đây có khoảng 350 loài san khô, gần bằng một nửa số san hô trên thế giới. Hòn Mun còn có rất nhiều tảng đá màu đen tuyền như gỗ mun nhô cao. Bên cạnh Hòn Mun còn có hòn Chồng – hòn Vợ nằm dưới chân đồi La-san.

Nói đến đồ ăn, nếu đến biển Nha Trang bạn nhất định phải thưởng thức những món ăn hải sản như cua ghẹ, sò, ốc,… Một vài món ăn đặc sản mà bạn không nên bỏ qua là các món ốc luộc, cháo cá mú, cua rang me, bánh canh chả cá – cá dầm, bún cá sứa,…

Với những vẻ đẹp vốn có mà thiên nhiên ưu ái cùng với bàn tay nhào nặn của con người, biển Nha Trang trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng cả trong nước và quốc tế. Nơi đây cần được bảo tồn và gìn giữ để ngày càng góp phần vào sự phát triển của du lịch Việt Nam và mang một hình ảnh đẹp của Việt Nam ra thế giới.

Xem Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Đất Mũi Cà Mau ❤️️ 16 Bài Giới Thiệu Cà Mau

Thuyết Minh Về Thành Phố Biển Nha Trang được nhiều bạn đọc quan tâm và chia sẻ rộng rãi trên các diễn đàn văn học nổi tiếng.

Nằm trong top những bãi biển đẹp và bình yên nhất thế giới, thành phố biển Nha Trang trong nhiều năm qua luôn nằm trong lựa chọn số một của du khách trong và ngoài nước. Bãi biển cát cát sóng xanh cùng với những dịch vụ tiện ích vô cùng phong phú, giá cả vừa túi tiền chứ không quá cao như Bali của Indonesia hay Phuket của Thái Lan, Nha Trang nổi bậc như một thiên đường nghỉ dưỡng, đáng để một lần đến và tận hưởng.

Tọa lạc ở miền trung nam đất nước, là thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa, thành phố biển Nha Trang vươn mình ra biển khơi, ưỡn tấm ngực đón gió đông và ánh sáng. Phía Bắc Nha Trang giáp thị xã Ninh Hòa, một thị xã mới nổi; phía Nam giáp huyện Cam Lâm; phía Tây giáp huyện Diên Khánh; phía Đông giáp Biển Đông có huyện đảo Trường Sa (Khánh Hòa).

Có thể nói, Nha Trang được bao bọc bởi biển khơi và núi đồi. Như một con chim lớn hạ cánh bên bờ biển đông, Nha Trang sẽ còn tiếp tục tung cánh lên trời xanh, thỏa sức vẫy vùng với bốn bể năm châu.

Thành phố Nha Trang nằm trên bờ vịnh biển đông. Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới.

Rạn san hô luôn là điểm đến hấp dẫn của du khách thích khám phá thé giới dưới mặt nước với muôn hình vạn trạng sắc màu. Được nhìn ngắm rạn san hô giống như bạn đang ở trong một thế giới thần tiên nào đó hết sức li kì.

Khám phá vịnh biển Nha Trang, nhất định bạn phải một lần dạo hết các địa điểm thì mới thấy được, biết được và có cảm nhận đầy đủ về thiên đường du lịch độc nhất vô nhị này. Trước hết, buổi sáng dạo mát và đắm mình trong lòng nước xanh sóng nhẹ của biển Nha Trang là nhất rồi. Biển buổi sáng hiền hòa như một cô gái e ấp mơn man vào làn da. Buổi chiều đứng trên bờ để cho gió từ ngàn vạn khơi xa về chải tóc thì quả thật là kì thú vô biên.

Đi Hòn Mun ngắm san hô, thiên đường trong lòng đại dương là một cơ hội không thể bỏ qua. San hô Hòn Mun đẹp hơn san hô ở Hòn Ngọc Phú Quốc rất nhiều lần. Đừng ngạc nhiên khi bạn được nhìn thấy những phiến đá đen tuyền như màu mun sừng sững trước nắng và gió.

Hòn Miễu – Bồng Nguyên Tiên Đảo có Thủy Cung Trí Nguyên với những sinh vật biển kỳ lạ là nơi cho bạn tha hồ khám phá. Cách hồ là bãi sỏi đủ màu, đủ dáng, trải thành từng lớp trên bờ thay cho cát trắng.

Hãy dành một ngày thơi thả để bạn đến với Hòn Tằm, thiên cung trên đại dương. Mất khoảng 30 phút đi cano là bạn đẫ có thể bước chân lên hoang đảo này rồi. Tĩnh lặng như chốn thăm thẳm tròi mây, hòn tằm là nơi đáng để bạn tìm kiếm cảm giác tịnh khiết của tâm hồn sau những bôn ba đời thường.

Đến Nha Trang không thể không ghé đến Hòn Tre, một Bali, Phuket của Việt Nam. Hơn cả sự mong đợi, sau khi du khách được khuấy động khát vọng chinh phục khi ngắm nhìn biển xanh từ trên tháp treo vượt biển, khu vui chơi giải trí Vinpearl tiếp tục cũng cố niềm vui với những dịch vụ trải nghiệm phong phú và hấp dẫn không thể nào cưỡng lại được. Chỉ cần bạn chuẩn bị một sức khỏe tốt và niềm đam mê bất tận, Hòn Tre sẵn sàng đưa bạn đến chín vạn tầng mây của hạnh phúc.

Nếu còn đam mê khám phá, bạn hãy đến với Đảo Yến. Đứng ở Hòn Chồng, trông sang Hòn Yến. Lên Tháp Bà, về viếng Sinh Trung. Đây không phải là tên riêng của một đảo nào, mà cứ đảo nào có yến làm tổ thì gọi vậy. Buổi chiều nắng xế ma quái, ngồi trên thuyền dạo quanh các hoang đảo, từng đàn yến ríu rít gọi nhau trên vách đá.

Sóng đập bờ đá rì rào, gió thốc mạnh tà áo, con thuyền chồng chềnh tạo cảm giác vừa hứng khởi vừa có chút lo âu là lạ. Du khách có thể cùng người dân khai thác những tổ yến đã đến mùa trên vách đá. Tuy nhiên, đó là một hoạt động khá nguy hiểm, không được khiến khích.

SCR.VN Gợi Ý Bài 🌵Thuyết Minh Về Bình Thuận ❤️️ 16 Bài Giới Thiệu Bình Thuận

Một số thông tin thú vị được chúng tôi chia sẻ qua bài văn Thuyết Minh Về Vịnh Nha Trang Ấn Tượng sau đây.

Nhắc đến du lịch vịnh đảo, ai cũng sẽ nhớ ngay đến Nha Trang như một lẽ tự nhiên ăn sâu trong tiềm thức. Đến với Nha Trang – Khánh Hòa là đến với thiên nhiên hoang sơ nhất, đẹp nhất khiến ai cũng đắm say. Vinh Nha Trang là một trong những vịnh đảo đẹp, nổi tiếng nhất Việt Nam, đồng thời cũng góp phần đưa danh lam đất Việt vươn tầm thế giới. Người Việt nhắc đến Nha Trang đầy vẻ tự hào và tình yêu khó giấu trên khuôn mặt.

Vịnh Nha Trang – Vịnh thứ 2 tại Việt Nam được tôn vinh trong top 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Sau vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang vinh dự được nhận xếp hạng danh giá “Một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới”. Danh hiệu này được công nhận vào tháng 7 năm 2003. Nơi đây còn được gọi là hòn ngọc biển đông, nhận được sự ưu ái từ thiên nhiên, hội tụ đầy đủ các yếu tố: sự trù phú của đồng ruộng làng quê, sự hùng vĩ của núi non, vẻ nao la của sông biển, đầm phá và các hải đảo cùng tạo nên bản giao hưởng thiên nhiên đẹp đẽ, tuyệt vời.

Vịnh đảo Nha Trang sánh vai cùng vịnh Hạ Long ghi dấu ấn vẻ đẹp Việt Nam trên trường quốc tế, Du khách từ nhiều nơi trên thế giới đổ về tham quan, nhìn ngắm nét đẹp của thiên nhiên, con người đất Việt.

Nha Trang là thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa, là một thành phố biển nằm dọc duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam, giáp thành phố Cam Ranh, thị xã Diên Khánh và thị xã Khánh Hòa. Phía còn lại giáp biển Đông.

Khu vịnh Nha Trang diện tích 507km có rất nhiều đảo, tổng cộng có 19 đảo lớn nhỏ khác nhau thu hút du khách đến check-in. Tuy nhiên, thường họ chỉ di chuyển đến 1 vài đảo lớn để chụp ảnh, ngắm cảnh chứ ít ai đi hết 19 đảo.

Việt Nam có nhiều biển đảo đẹp. Tuy nhiên, vịnh Nha Tranh là 1 trong những đảo đẹp nhất. Nó đặc biệt hơn hết thảy những vịnh đảo khác, Cụ thể, toàn bộ bờ biển của nước ta luôn lượn cong trên mặt thềm lục địa với độ sâu nhỏ hơn 50. Tuy nhiên, vịnh Nha Trang đã có độ sâu 200 mét khi cách bờ khoảng 70km. Xa hơn, cách bờ 100km thì độ sâu đã lên tới 2.000 mét.

Chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ngắn Gọn 🌼 15 Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Bãi Biển Nha Trang Văn Ngắn giúp các em có thể học hỏi và rèn luyện thêm kĩ năng của mình.

Nha Trang là địa điểm du lịch nổi tiếng cả nước bởi vẻ đẹp hiền hòa, thơ mộng của biển trời xanh biếc và những bãi cát trắng mịn trải dài tăm tắp. Dạo quanh trên các nẻo đường sẽ cảm nhận Nha Trang vẻ đẹp đầy quyến rũ, thơ mộng. Hàng phi lao rì rào trong gió, hàng dừa xanh bên bờ đại dương tỏa bóng cho những biệt thự, khách sạn hiện đại đầy tráng lệ đem đến cho du khách nghỉ ngơi sau những giờ phút nô đùa trên sóng.

Từ ngoài khơi xa từng lớp sóng bạc tiến vào bờ như những chùm hoa sóng tung bọt trắng xoá, ngân lên những âm thanh rì rào không dứt. Những con đường nhựa rộng lớn, uốn lượn quanh bờ biển thật là nên thơ. Đặc biệt đường Trần Phú – con đường rộng, thoáng đẹp nhất thành phố ôm bờ biển vào lòng.

Nhìn từ trên cao, bãi biển Nha Trang uốn cong như một lưỡi liềm ôm lấy vịnh biển xanh như ngọc. Bên bờ biển, những rặng dừa và phi lao lao xao càng tôn lên vẻ đẹp ngây ngất của biển. Khí hậu ở Nha Trang rất ôn hòa, nắng ấm quanh năm, mỗi năm chỉ có 2 tháng mưa, nên rất thuận lợi cho du lịch.

Không gì tuyệt vời hơn cảm giác được ngồi trên bờ biển Nha Trang vào lúc hoàng hôn để thấy và cảm nhận vẻ đẹp bình yên của buổi chiều tà. Trong nắng chiều vàng khi hoàng hôn buông xuống, biển Nha Trang như đang chìm trong giấc ngủ cuối ngày, khung cảnh trầm tư mà lãng mạn, ồn ào mà tĩnh lặng.

Trên mặt biển những đợt sóng ào ạt xô vào bờ tung bọt trắng xóa. Mặt trời khi ấy mang màu đỏ hồng in xuống dòng nước biển trong xanh, hòa mình trong tiếng sóng. Chiều Nha Trang lãng mạn như thế để những cặp đôi sánh bước bên nhau, tay trong tay nhìn mây nước hòa quyện, im lặng thôi, không ai nói gì cũng đủ để hiểu thấu lòng nhau. Chiều Nha Trang lay động lòng người bởi những điều giản đơn ấy.

Đắm mình trong không gian hoàng hôn nơi biển Nha Trang, du khách như được thấy mình thật hơn, tĩnh lặng hơn, không còn những ồn ào, những xô bồ của cuộc sống hối hả.

Một chuyến đi đến Nha Trang đã để lại trong lòng du khách nhiều khoảnh khắc đáng nhớ đó là một vùng biển, một vùng cát trắng với biết bao điều thú vị, kỷ niệm dấu yêu, khó phai mờ cho ai một lần đến với Nha Trang. Cuộc sống mới đã đem lại cho Nha Trang những sắc màu và âm thanh mới mẻ.

Một thành phố tươi trẻ năng động trên đà phát triển, là địa điểm du lịch hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước. Có những cung bậc cảm xúc thật khó tả mỗi khi ai đã từng đặt chân đến Nha Trang, ít nhiều gì cũng sẽ có những ấn tượng và kỉ niệm sâu sắc để lại trong lòng khi xa nơi này.

Đọc Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Sapa ❤️️17 Bài Văn Giới Thiệu Về Sapa Hay

Thuyết Minh Biển Nha Trang Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn, hình ảnh miêu tả chân thực và sinh động.

Một điều tuyệt vời không thể thiếu đối với chúng ta khi đến những ngày hè là được vui đùa trên biển xanh cát trắng. Nào là biển Sầm Sơn ào ào những con sóng lớn, là bãi biển Cát Bà với đụn cát trắng phau, là biển Cửa Lò còn nét hoang sơ và những rặng phi lao bạt ngàn… Nhưng bãi biển đẹp nhất nước ta phải kể đến biển Nha Trang, nơi được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông vì vẻ đẹp tự nhiên và giá trị thiên nhiên của nó.

Biển Nha Trang nằm bên bờ vịnh Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa. Nói đến biển Nha Trang ta không thể không nhắc đến vịnh Nha Trang với diện tích 507 km2 bao gồm 19 đảo lớn nhỏ. Trong đó đảo Hòn Tre có diện tích lớn nhất là 3520 ha và đảo Hòn Nọc có diện tích nhỏ nhất chỉ khoảng 4 ha.

Khí hậu Nha Trang dễ chịu, trong lành, mát mẻ phù hợp cho những chuyến du lịch nghỉ dưỡng. Thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho thành phố biển Nha Trang tất cả những gì mà một vùng duyên hải Nam Trung bộ có thể có. Từ bãi tắm với dải cát trắng mịn trải dài đến những hòn đảo ngoài khơi đẹp đến ngỡ ngàng, từ những rặng san hô kì ảo dưới lòng đại dương tới những ngôi đền Chăm rêu phong cổ kính trên núi…

Biển Nha Trang vào buổi sáng hay chiều tà đều mang đến một sự bình yên dễ chịu. Biển sạch sẽ và trong vắt đến mức có thể nhìn thấy đáy. Về đêm khi thành phố lên đèn thì biển Nha Trang lại trở nên sôi động và rực rỡ khác hẳn với không khí yên bình lúc trời còn rõ ràng ánh sáng. Nha Trang bao gồm hầu hết các hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới như đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái bãi cát ven bờ… Tất cả đã làm phong phú thêm vẻ đẹp của biển Nha Trang.

Đến với Nha Trang là đến với những cảnh quan tươi đẹp hiếm có. Hàng ngàn những đảo đá ở đây cho du khách những trải nghiệm hấp dẫn. Ta không thể dời mắt trước sắc đẹp của những rặng san hô ở Hòn Mun. Nơi đây tập trung khoảng 350 loài san hô đá trong tổng thể 800 loài trên thế giới. Một điều rất thú vị về tên của đảo được giải thích là ở đây có rất nhiều tảng đá nhô cao màu đen tuyền như gỗ mun nên người dân đã đặt tên là Hòn Mun.

Ngoài ra còn có hòn Chồng- hòn Vợ gồm hai cụm đá lớn nằm bên bờ biển dưới chân đồi La-san, có thể được tạo nên do sự xâm thực của thủy triều lên ngọn đồi này. Cụm thứ nhất gọi là hòn Chồng vì nó gồm một tảng đá, phía mặt đá quay ra biển có vết lõm hình bàn tay rất lớn tượng trưng cho sức mạnh của người đàn ông. Còn cụm đá thứ hai có tên là hòn Vợ vì nó có dáng mình của người phụ nữ ngồi trông ra phía biển.

Không chỉ được đắm mình trong không khí của biển, Nha Trang còn chào đón du khách với những di tích lịch sử và những khu vui chơi giải trí nổi tiếng. Bạn có thể đi tham quan chợ Đầm, chợ trung tâm của thành phố biển Nha Trang để ngắm nhìn thiết kế đẹp độc đáo của chợ và chọn mua những đồ lưu niệm hay hải sản về làm quà.

Ngoài ra còn có những điểm đến thú vị khác như chùa Long Sơn, nhà thờ Núi hay tháp bà Ponagar…Đặc biệt nổi tiếng nhất có lẽ là Vinpearl Land, nơi nhiều du khách chọn đến để giải trí. Đây có thể coi như thiên đường với hệ thống cáp treo giúp bạn quan sát được toàn cảnh biển Nha Trang, với những trò chơi thú vị và mạo hiểm như lặn biển, cano, lướt ván…Vinpearl còn là nơi tổ chức nhiều lễ hội và sự kiện mang tầm cỡ thế giới.

Đến với Nha Trang bạn sẽ được thưởng thức nhiều đồ hải sản hết sức tươi ngon bởi nơi đây tập trung hơn 190 loại cá lớn nhỏ và cực kì nhiều loại ốc, sò , cua ghẹ… Bạn có thể cảm nhận vị của biển cả qua những đặc sản địa phương như bún cá sứa, bánh canh chả cá- cá dầm, cua rang me, cháo cá mú, ghẹ hấp, các món ốc luộc…

Ngày nay, Nha Trang đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế. Vì vậy mà vẻ đẹp của biển Nha Trang cần được bảo tồn và gìn giữ để phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng của người dân Việt và có được hình ảnh đẹp trong mắt bạn bè quốc tế.

Tham Khảo Bài ❤️️ Giới Thiệu Về Đà Lạt ❤️️ 20 Bài Văn Thuyết Minh Đà Lạt Hay Nhất

Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Khánh Hòa, cùng tham khảo bài văn hay giới thiệu về Hồn Chồng nổi tiếng sau đây.

Đối với người dân Nha Trang, không ai lại không biết thắng cảnh Hòn Chồng – một bãi đá tự nhiên tồn tại từ bao đời, cùng với sự hình thành và phát triển của thành phố. Tuyệt tác tự nhiên này được xếp hạng là di tích quốc gia vào năm 1998, và trở thành điểm tham quan không thể bỏ qua khi ghé qua Nha Trang. Chỉ là một bãi đá thô sơ nằm nhô ra biển, nhưng tại sao Hòn Chồng lại có sức hút với dân địa phương lẫn du khách bốn phương đến thế?

Theo nhiều ghi chép địa phương, Hòn Chồng Nha Trang là một quần thể đá lớn với nhiều hình thù nằm dưới chân đồi La San, xếp chồng lên nhau một cách tự nhiên, chạy từ bờ xuống biển, tạo ra bố cục thiên nhiên ấn tượng cùng những bãi tắm tự nhiên vừa đẹp vừa kín gió. Khu vực bãi đá Hòn Chồng dường như tách biệt khỏi sự nhộn nhịp, huyên náo của phố phường, và được cho là một trong những vị trí đẹp nhất để ngắm biển Nha Trang.

Ngoài ra, nơi đây còn có Hội quán Vịnh Nha Trang, được xây dựng trên con dốc thoai thoải từ đồi La San dẫn xuống bãi đá Hòn Chồng. Khu nhà cổ này là nơi trưng bày nhiều tranh ảnh, tư liệu về danh thắng Hòn Chồng cũng như những danh lam thắng cảnh khác ở xứ Trầm Hương.

Hội quán Vịnh Nha Trang được thiết kế theo phong cách nhà Rường Huế, với nhà gỗ, mái lợp ngói liệt, bên trong có rường gỗ phía trên xà nhà – tạo nên không gian đậm chất văn hóa dân tộc, giúp quảng bá hình ảnh, con người Nha Trang – Khánh Hòa và đất nước Việt Nam đến với bạn bè khắp nơi.

Hoạt động chủ yếu tại khu du lịch Hòn Chồng Nha Trang là tham quan thắng cảnh, nên bạn sẽ không mất nhiều chi phí cho các dịch vụ vui chơi giải trí. Với phong cảnh hữu tình và khoáng đạt như thế, bạn có thể đi dạo, ngắm cảnh, tắm biển, hoặc câu cá thư giãn, và cho ra đời những tấm hình “ảo diệu” nhất.

Theo một truyền thuyết khác, có hai vợ chồng ngư phủ rất nghèo sống bằng nghề chài lưới ven biển. Tai ương kéo đến khi một hôm sóng to gió lớn, con thuyền đánh cá của họ bị nhấn chìm hoàn toàn, và người vợ bị sóng cuốn ra xa. Người chồng vội níu lấy vợ mình, tay kia bám chặt vào khối đá trên bờ. Song, nỗ lực thoát thân của họ đã không được đền đáp, hai vợ chồng mãi mãi nằm lại ngoài biển khơi. Có lẽ câu chuyện này còn lý giải cho sự xuất hiện của một nhóm đá nhỏ, thấp hơn nằm cách đó không xa, gọi là Hòn Vợ.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Thuyết Trình Về Nha Trang Hay Nhất để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc sau đây với lối văn hấp dẫn.

Tôi đến thăm Nha Trang, một thành phố biển tại Việt Nam, lần đầu cách đây 3 năm. Đó là một chuyến đi thú vị và đáng nhớ.

Nha Trang, thủ đô của tỉnh Khánh Hoà, sở hữu bãi biển đẹp nhất trong số các bãi tắm nằm trong lòng thành phố trên toàn Việt Nam. Ở Nha Trang, thiên nhiên thật quyến rũ. Sóng xô bờ đá; hơi thở nhẹ nhàng của gió biển, bãi cát trắng và nước biển trong xanh; tất cả đã tạo nên phong cảnh tuyệt vời. Không phải là điều ngẫu nhiên khi Nha Trang thường được so sánh với thành phố Biển Địa Trung Hải.

Trong dịp đi thăm Nha Trang hồi đó, tôi thường dậy sớm vào buổi sáng đi tản bộ dọc theo bờ biển – một dịp để hít thở không khí biển trong lành và thưởng thức cảnh bình minh trên biển.

Một điểm thu hút tôi ba năm trước và giờ vẫn như thế là tổ hợp các hòn đảo nhỏ ngoài khơi.Hòn Tre là một trong những đào lớn nhất. Hòn Khỉ, như tên gọi của nó đã gợi mở, là nơi cư ngụ của hàng trăm loài khỉ hoang dã. Đảo Yến nổi tiếng có nhiêu tổ chim Yến. Đảo Trí Nguyên, hồ cá tự nhiên là nơi cư trú của hơn 400 loài cá, động vật giáp xác và các loài vật biển khác.

Trong chuyến đi ấy, nguyên một ngày tôi đã lang thang ở Tháp Chàm Ponaga. Những đền thờ Hindu cổ xưa này được xây dựng vào thời kỳ giữa thế kỷ 7 và 12. Nhiều bức tượng đá từ thời đó vẫn còn y nguyên trong các tháp được xây bằng gạch đỏ, đặc trưng cho kiến trúc Chàm.

Nha Trang là thành phố của sự hài hoà: thời tiết đẹp, vị trí thuận lợi và người dân thân thiện đem lại cho Nha Trang sự cân bằng vững chắc. Nha Trang là điểm đến du lịch hoàn hảo. Khi rời xa, tôi đã tự nhủ lòng mình sẽ nhớ nơi này nhiều lắm. Tôi hy vọng có cơ hội được trở lại.

Đọc Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở An Giang ❤️️ 15 Bài Hay

Nha Trang là tuyệt phẩm của tạo hóa, nơi có một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới và được thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều thắng cảnh, đặc sản độc đáo.

Nha Trang – vùng đất “xứ Trầm, biển Yến” – có một sức hút đặc biệt đối với những ai từng đặt chân đến đây. Thành phố biển xinh đẹp này xứng đáng là “miền đất hứa” cho những tín đồ đam mê du lịch. Liệu bạn đã biết Nha Trang ở đâu?

“Nha Trang thuộc tỉnh nào?” là câu hỏi quen thuộc của nhiều du khách khi nghe đến tên thành phố nổi tiếng này. Xét về địa lý, thành phố biển Nha Trang tọa lạc ở vị trí trung tâm và là thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa: phía Bắc giáp với thị xã Ninh Hòa, phía Nam giáp huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp biển Đông. Nha Trang được mệnh danh là “hòn ngọc của biển Đông” nhờ sở hữu những “món quà” quý giá mà thiên nhiên ban tặng.

Thành phố Nha Trang nằm ở khu vực phía Nam miền Trung, thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Ngụ tại cửa ngõ Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Nha Trang hội tụ đầy đủ lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu, cảnh sắc thiên nhiên lẫn giao thương để trở thành chốn thiên đường trong địa hạt du lịch và nghỉ dưỡng tại Việt Nam.

Thành phố có vịnh biển Nha Trang được tạp chí Travel and Leisure bình chọn là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Nha Trang còn có hệ thống các đảo lớn nhỏ vô cùng đa dạng, chứa cả cảnh đẹp trên bờ lẫn dưới nước và vẫn giữ nguyên nét hoang sơ, thô mộc như: Hòn Tre, Hòn Mun, Hòn Tằm, Hòn Đụn, Hòn Miễu, Hòn Hố, Hòn Một…

Không hổ danh là “phiên bản thiên đường nơi hạ giới”, Nha Trang được thiên nhiên khoản đãi khí hậu ôn hòa, vị trí đắc địa cùng phong cảnh tuyệt sắc. Cùng theo chân chúng tôi khám phá địa điểm du lịch Nha Trang ở đâu nổi tiếng nhất?

Bãi biển Nha Trang: Bãi biển được xem là địa điểm “nhất định phải đến” nếu bạn đặt lên lên mảnh đất Nha Trang. Trải dài 7km, bãi biển Nha Trang mở ra một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng và bát ngát với bãi cát trắng mịn, làn nước trong xanh bên rặng dừa, rặng phi lao rì rào trước gió. Không chỉ tắm mình dưới làn nước mát, du khách đến đây còn có thể trải nghiệm những hoạt động vui chơi giải trí hấp dẫn như lượn dù, lướt ván, lái cano hay flyboard (đứng nước trong không trung)…

Viện Hải Dương học: Có tuổi đời gần 100 năm, Viện Hải Dương học là nơi lưu trữ trên 20.000 mẫu vật của hơn 4.000 loài sinh vật biển. Đặc biệt, nơi đây còn trưng bày một bộ xương cá voi khổng lồ dài gần 26m vô cùng ấn tượng. Khám phá “thủy cung trên mặt đất” này tại địa chỉ: số 1, Cầu Đá, Trần Phú, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Nhà thờ Đá: Như chính tên gọi của mình, toàn bộ Nhà thờ Đá được xây dựng từ hàng nghìn viên đá lập thể theo lối kiến trúc Gothic đặc trưng của phương Tây. Giáo đường có tên gọi chính thức là Nhà thờ Chánh tòa Kitô Vua. Thế nhưng người dân địa phương thường gọi bằng những cái tên giản dị như “Nhà thờ Đá”, “Nhà thờ Núi”, “Nhà thờ Ngã Sáu” hay “Nhà thờ Nha Trang”… Đây không chỉ là nhà thờ Công giáo chính thống phục vụ cho mục đích tôn giáo mà còn là điểm hút khách du lịch tại Nha Trang.

Tháp Bà Ponagar: Tọa lạc trên một ngọn đồi cao chừng 50m so với mực nước biển, Tháp Bà Ponagar là một trong những quần thể kiến trúc Chăm Pa đồ sộ còn sót lại ở miền Trung Việt Nam. Kết cấu tòa tháp được xây dựng từ những viên gạch nung thời cổ xếp khít lại với nhau. Tháp có tất cả 4 tầng, mỗi tầng đều có cửa, bên trong thờ tượng Đức Bà uy nghi ngự trên tòa sen bằng đá hoa cương.

Đón Đọc Bài 🍀 Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử 🍀 17 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Việt Nam- dải đất hình chữ S tuy nhỏ bé nhưng lại được tạo hóa ưu ái ban tặng những cảng sắc tự nhiên tuyệt đẹp. Ấy là những ngọn núi kì vĩ lại mang dáng hình của những con người kì vĩ; những ao đầm gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhắc đến Việt Nam mọi người con nhớ tới những bãi biển đẹp, trong sạch và thoáng đãng. Trong đó, biển Nha Trang được coi là một thắng cảnh đẹp, là viên ngọc biển ngời chói lấp lánh.

Bãi biển Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa. Trước khi trở thành vùng đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc quyền sở hữu của nhà nước Chiêm Thành. Nơi đây tuy gần Đà Lạt mát mẻ quanh năm nhưng thành phố này lại có cái nắng rực rỡ, cái nóng nhè nhẹ của miền nhiệt đới ẩm. Biển có khí hậu hai mùa rất rõ rệt: mùa khô từ tháng giêng đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12.

Bãi biển Nha Trang có diện tích khoảng 507 km2 với 19 hòn đảo lớn nhỏ. Hòn Tre là đảo lớn nhất với diện tích 32, 5 km2 còn đảo nhỏ nhất là Hòn Ngọc chỉ khoảng 4ha.

Biển Nha Trang là một bãi tắm đẹp thu hút rất nhiều khách du lịch hàng năm. Bãi cát mềm mịn, trắng phau trải dài mênh mông, long lanh dưới ảnh nắng ban mai. Bao bọc xung quanh là những rặng thông, rặng phi lao xanh rì, lúc nào cũng lao xao không ngớt cùng gió biển bao la. Trên bãi cát lúc nào cũng nhộn nhịp khách du lịch đi lại, tham quan hay tắm mát.

Những chiếc dù sặc sỡ sắc màu được đặt giữa bãi biển rộng lớn trông như những viên kẹo nhỏ bé dưới ánh mặt trời. Trên mặt nước trong xanh và mát lành là những chiếc phao bơi đủ mọi hình thù, những chiếc cano để mọi người có những trải nghiệm mới… Tiếng reo hò, đùa vui không ngớt hòa vào tiếng sóng biển vỗ bờ. Buổi trưa khi mặt trời lên cao, nước biển lại trong xanh đến lạ kì như những mảnh chai.

Nha Trang không chỉ là bãi biển đẹp mà còn là khu sinh thái, khu bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng của quốc gia. Biển Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng vịnh trên thế giới. Đây là nơi rất phát triển của hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ.

Đến với Nha Trang là ta đến với sắc đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của biển cả. Nói đến đây thì chắc hẳn ai đã từng một lần đến với Nha Trang sẽ nhớ đến Hòn Mun. Sở dĩ có cái tên gọi này là bởi ở phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây lại đen như gỗ mun, điều rất hiếm khi bắt gặp.

Đây là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam với 350 loại san hô, chiếm 40% san hô trên thế giới. Cùng với việc phục vụ nghiên cứu sinh học, Hòn Mun còn là nơi rất phát triển về mảng du lịch với nhiều trải nghiệm thu hút khách hàng như lặn biển, thả dù, ngắm cảnh sắc từ trên cao…

Bên cạnh đó, Hòn Tằm cũng là một địa điểm du lịch sinh thái biển thu hút khách bởi vẻ nguyên sơ của thảm thực vật biển, bãi cát dài lãng mạn. Đặc biệt là sau bãi tắm có một cái hang Dơi- nơi cư trú của hàng trăm loại dơi ở độ cao cheo leo 60m. Đây không chỉ là nơi để tham quan, khám phá mà còn lưu trữ nhiều giá trị về mặt khoa học. Ngoài Hòn Mun, Hòn Tằm thì biển Nha Trang còn nổi tiếng với Hòn Miễu, Hòn Tre, Hòn Chồng- Hòn Vợ.

Chạy dọc theo bờ biển Nha Trang là con đường Trần Phú uốn lượn mềm mại theo đường bờ biển với những ngôi biệt thự nhỏ xinh, những khách sạn cao cấp và những nhà hàng sang trọng. Xen vào đó là hệ thống dịch vụ hiện đại như bưu điện, nhà bảo tàng, thư viện, câu lạc bộ…

Biển Nha Trang còn nổi tiếng là một thiên đường ẩm thực miền Trung. Hải sản ở biển Nha Trang rất phong phú và đa dạng, lại có hương vị rất đặc trưng của vùng miền. Những món đặc sản như bong bóng cá, vi cá, nhím biển ăn sống với cải bẹ xanh… đều để lại ấn tượng với du khách dù chỉ một lần thưởng thức.

Hiện nay biển Nha Trang diễn ra rất nhiều hoạt động như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải biển, dịch vụ du lịch… Các hoạt động này đã mang lại nguồn lợi không nhỏ cho xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và của thành phố Nha Trang nói riêng.

Ngày nay, để phát huy giá trị của biển Nha Trang, ban quản lí cần có chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị của biển để biển Nha Trang mãi là một điểm đến lí tưởng cho mọi người.

SCR.VN Tặng Bạn 💧 Thuyết Minh Về Bắc Kạn 💧 14 Bài Giới Thiệu Bắc Kạn Hay

Nha Trang là một lựa chọn dừng chân cho rất nhiều du khách vào ngày cuối tuần, các dịp lễ tết. Đến Nha Trang không chỉ để khám phá cảnh đẹp của nơi đây mà thưởng thức những món đặc sản nổi tiếng cũng là một trong những lý do đưa du khách đến đây ngày càng nhiều.

Nha Trang – một thành phố ven biển, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Trước khi trở thành phần đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc về Chiêm Thành. Các di tích của người Chăm vẫn còn tại nhiều nơi ở Nha Trang được Thủ tướng chính phủ Việt Nam công nhận là đô thị loại 1 vào ngày 22 tháng 4 năm 2009.

Đây là một trong các đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam. Nha Trang được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông, Viên ngọc xanh vì giá trị thiên nhiên, sắc đẹp cũng như khí hậu của nó.

Nha Trang không chỉ thu hút khách du lịch bởi những cảnh đẹp mà còn làm cho du khách muốn quay lại đây để thưởng thức những món ngon đặc sắc với hương vị khó quên.

Nem nướng Nha Trang là một món ăn vô cùng hấp dẫn, không thể không nhắc tới khi đến với thành phố biển xinh đẹp này. Nem nướng Nha Trang hay còn gọi là nem nướng Ninh Hòa, được làm từ da heo thái sợi như nem chua Thanh Hóa, nhưng không gói bằng lá chuối, nem Ninh Hòa được gói bằng lá chùm ruột hoặc lá khế non để tạo nên mùi thơm đặc trưng.

Thưởng thức món nem nướng Nha Trang, thực khách sẽ cảm nhận được vị chua dịu, mùi thơm của thịt, vị cay của ớt… được hòa quyện vào với nhau. Nem nướng ăn kèm với nộm đu đủ cùng nước chấm ngon sẽ làm cho du khách khó quên được vị ngon của món này.

Bánh canh chả cá là món mà du khách không nên bỏ qua khi đến với Nha Trang, hãy nêm thử một lần món ăn này để biết được ẩm thực Nha Trang ngon như thế nào. Bánh canh chả cá được bày bán rất nhiều nên du khách có thể dễ dàng tìm thấy ở Nha Trang.

Chả cá có hai loại cho bạn lựa chọn là chả cá hấp và chiên. Tùy vị mà bạn yêu thích mà lựa chọn khẩu phần cho mình. Cá được lọc hết thịt, xương cá dùng để nung lấy nước, tạo nên vị ngọt đặc trưng từ cá. Miếng chả mềm, dai, nổi bật vị ngọt của cá, đậm vị hơn khi dùng với nước chấm tỏi ớt. Chả cá tươi ngon ăn cùng với bún hoặc bánh canh tạo nên một hương vị khó cưỡng.

Nếu lựa chọn bún cá, bạn đừng quên cho vào bát một ít hành tây, cà chua trước khi ăn và hãy ăn kèm với rau sống. Những hương vị từ thiên nhiên sẽ hòa quyện với nhau, vị giác sẽ cảm nhận được hết vị ngon của món này.

Bánh canh cũng ăn kèm với rau, hoặc bạn cũng có thể cho thêm ít gia vị mà bạn yêu thích. Hương vị của món này sẽ làm du khách muốn ăn thêm sau khi đã thưởng thức lần đầu.

Bánh ướt Diên Khánh là một món ăn nổi tiếng ở Nha Trang. Món ăn này ở phố bánh ướt Diên Khánh. Tuy gọi là phố nhưng thực chất nơi đây là một con đường nơi tụ tập rất nhiều các hàng bán bánh ướt, những hàng quán này được mở từ 4 giờ sáng đến tận đêm khuya. Do đó, khách muốn có thể dùng món này bất cứ khi nào.

Không quá cầu kỳ như những món ăn khác, “Bánh ướt Diên Khánh” được làm một cách đơn giản, vớt bánh từ lò ra người bán cho vào dĩa, cho hành mỡ, đậu xanh hoặc ruốc rồi kèm theo chén nước chấm. Bánh ướt được làm từ gạo, gạo được vo rồi xay nhuyễn, hòa trộn cùng nước rồi được hấp trên những lò đất. Đây là những lò được xây nên bằng đất, bên trên để một chảo gang và dùng vải mỏng căn ở trên. Bánh ướt nóng dùng kèm với chả vùng Diên Khánh và mắm thường là nước mắm hoặc mắm nêm.

Chia Sẻ Bài ⏩ Thuyết Minh Về Đồng Nai ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Đồng Nai Hay

Thuyết Minh Về Nha Trang Bằng Tiếng Anh giúp các em trau dồi thêm vốn từ vựng phong phú hơn để học ngoại ngữ tốt.

Nha Trang is a seaside town, the capital city of Khanh Hoa Province on the South Central Coast of Vietnam. Nha Trang is becoming increasingly popular for the last few years due to its pristine beach, best scuba diving center of Vietnam, as well as lots of interesting places and delicious food to enjoy.

Surrounded on all three sides by mountain ranges, Nha Trang also offers the picturesque view of primary forest, waterfall and high mountain peak floating in soft cloud. Located 60 km far from the city center, at the height of 7578m, Hon Ba Peak is regarded as “the second Da Lat of Vietnam”.

People will need to drive about 25km of mountain pass and bendy slopes to reach this area. The fresh air and cool temperature here will definitely ease your feelings. Scientists declare that there are more than 40 rare floras and 60 endangered species living in Hon Ba Mountain. If you are fed up With beaches, Hon Ba may be a great place to visit.

Together With the heavenly beaches, the hot springs, diversified kinds of fish, and the colorful coral reef underwater has made Nha Trang become one of the best spots for scuba diving and snorkeling. Coming to Nha Trang in the period from January to August people Will have the chance to experience the most wonderful weather for swimming and sunbathing.

Coming to Nha Trang, tourists will be amazed at its delicacies, mostly from variety of seafood. Nha Trang is well-known for producing the highest quality of flavor fish sauce in Vietnam, thus, fish sauce plays an important role in the secret recipe of cooking Nha Trang’s specialties and making dipping sauce.

Among many dishes, grilled fermented pork roll, grilled beef, rice vermicelli with grilled fish and jellyfish, fresh seafood are most favorlte. In addition, the swallow’s nest soup with bird’s nests collected from the wild, is regarded as the best in Vietnam.

Regarded as Vietnam’s most famous seaside resort-town, Nha Trang attracts foreign tourists for not only its stunningly pristine beaches but the urban atmosphere of a young tourist city.

Bản dịch

Nha Trang là một thành phố biển, trung tâm của tỉnh Khánh Hòa trên vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Nha Trang ngày càng trở nên nổi tiếng trong vài năm gần đây do có bãi biển đẹp, trung tâm lặn biển tốt nhất Việt Nam, cũng như rất nhiều địa điểm thú vị và đồ ăn ngon để thưởng thức.

Được bao bọc cả 3 mặt bởi các dãy núi, Nha Trang còn mang đến khung cảnh đẹp như tranh vẽ của rừng nguyên sinh, thác nước và đỉnh núi cao bồng bềnh trong làn mây mềm mại. Nằm cách trung tâm thành phố 60 km, trên độ cao 7578m, Đỉnh Hòn Bà được ví như “Đà Lạt thứ hai của Việt Nam”.

Cùng với những bãi biển đẹp như thiên đường, suối nước nóng, các loại cá đa dạng và những rặng san hô rực rỡ sắc màu dưới nước đã khiến Nha Trang trở thành một trong những địa điểm lý tưởng để lặn biển và lặn ngắm san hô. Đến Nha Trang vào khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 8 mọi người sẽ có cơ hội trải nghiệm thời tiết tuyệt vời nhất để tắm biển và tắm nắng.

Đến với Nha Trang, du khách sẽ ngạc nhiên trước những món ngon của nó, hầu hết là các loại hải sản. Nha Trang được biết đến là nơi sản xuất ra loại nước mắm có chất lượng cao nhất Việt Nam, do đó, nước mắm đóng vai trò quan trọng trong bí quyết nấu các món đặc sản Nha Trang và làm nước chấm.

Trong số rất nhiều món ăn, nem chua nướng, bò nướng, bún chả cá và sứa, hải sản tươi sống được yêu thích hơn cả. Ngoài ra, nước yến sào với yến sào được thu hái từ tự nhiên, được đánh giá là tốt nhất Việt Nam.

Được coi là thị trấn nghỉ dưỡng ven biển nổi tiếng nhất Việt Nam, Nha Trang thu hút khách du lịch nước ngoài không chỉ bởi những bãi biển hoang sơ tuyệt đẹp mà còn là bầu không khí đô thị của một thành phố du lịch trẻ.

Chia sẻ cơ hội 💧 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 💧 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Thuyết Minh Về Lào Cai ❤️️15 Bài Giới Thiệu Lào Cai Hay

Thuyết Minh Về Lào Cai ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Lào Cai Hay ✅ Những Mẫu Văn Đặc Sắc Chia Sẻ Về Các Cảnh Đẹp, Địa Danh Nổi Tiếng Tại Đây. 

Tham khảo bài văn thuyết minh Giới Thiệu Về Lào Cai Chi Tiết để có cái nhìn tổng quan về vùng cao biên giới này.

Lào Cai là một tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 375 km theo đường bộ. Tỉnh có 203,5 km đường biên giới với tỉnh Vân Nam – Trung Quốc, trong đó 144,3 km là sông suối và 59,2 km là đất liền. Phía Bắc tỉnh Lào Cai giáp tỉnh Vân Nam – Trung Quốc; phía Nam giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu. Hiện nay, tỉnh có 10 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện).

Địa hình tỉnh Lào Cai đặc trưng là núi cao xen kẽ với đồi núi thấp, bị chia cắt lớn, với phần thung lũng dọc sông Hồng và các tuyến đường bộ, đường sắt chạy qua vùng trung tâm của tỉnh. Các huyện miền núi nằm bao quanh hành lang trung tâm này từ Đông – Bắc sang Tây – Nam, gồm nhiều dãy núi và thung lũng nhỏ biệt lập, nơi có các cộng đồng dân cư sinh sống.

Những vùng có độ dốc trên 250 chiếm tới 80% diện tích đất đai của tỉnh. Địa hình tự nhiên của tỉnh có độ cao thay đổi từ 80 m trên mực nước biển lên tới 3.143 m trên mực nước biển tại đỉnh Phan Si Păng, đỉnh núi cao nhất Việt Nam. Địa hình vùng núi với các tác động tiểu khí hậu đã giúp tạo nên một môi trường thiên nhiên rất đa dạng.

Lào Cai là tỉnh có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt do bị chi phối bởi yếu tố địa hình phức tạp, phân tầng độ cao lớn nên có đan xen một số tiểu vùng á nhiệt đới, ôn đới rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, đặc biệt với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao như cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu, thảo quả, bò lai sind…

Nhiệt độ trung bình hàng năm thường từ 22 – 24°C; cao nhất 36°C, thấp nhất 10°C (có nơi dưới 0°C như ở Sa Pa); độ ẩm trung bình năm trên 80%, cao nhất là 90% và thấp nhất 75%. Thường có sự chênh lệch giữa các vùng, vùng cao độ ẩm lớn hơn vùng thấp; lượng mưa trung bình năm trên 1.700 mm, năm cao nhất ở Sa Pa là 3.400 mm, năm thấp nhất ở thị xã Lào Cai 1.320 mm.

Sương mù thường xuất hiện phổ biến trên toàn tỉnh, có nơi mật độ rất dày. Trong các đợt rét đậm thường xuất hiện sương muối, ở những vùng có độ cao trên 1.000 m (Sa Pa, Bát Xát) hàng năm thường có tuyết rơi.

Lào Cai có tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch với các loại hình nghỉ dưỡng, sinh thái, leo núi, văn hoá. Thiên nhiên ban tặng cho Lào Cai nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng gắn với các địa danh Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương,… Trong đó, khu du lịch Sa Pa rất nổi tiếng trong nước và quốc tế; là một trong các trọng điểm du lịch của quốc gia. Số khách du lịch đến Lào Cai năm 2002 là 350.000 người; khách xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế năm 2002 đạt 1,4 triệu lượt người. Năm 2003, khu du lịch Sa Pa tròn 100 tuổi.

SCR.VN tặng bạn 💧 Giới Thiệu Về Một Danh Lam Thắng Cảnh 💧 17 Bài Văn Hay

Thuyết Minh Về Tỉnh Lào Cai Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng ý văn, cách dùng từ ngữ sinh động và đặc sắc.

Đến với Lào Cai du khách sẽ được tham quan những địa danh nổi tiếng như: Sapa; cùng trải nghiệm các loại hình du lịch danh lam thắng cảnh, du lịch sinh thái, du lịch Lào Cai leo núi lên đỉnh Fansipan cao nhất cả nước là trải nghiệm không thể bỏ qua.

Lào Cai là một tỉnh thuộc vùng cao biên giới phía Bắc Việt Nam. Khu du lịch Lào Cai được biết đến với vẻ đẹp nguyên sơ của vùng núi phía Bắc. Đến Lào Cai ngoài những danh lam thắng cảnh hấp dẫn thì đây cũng là nơi có nhiều những địa danh lịch sử, hang động tự nhiên, và nét ẩm thực đặc sắc mang đậm nét đặc trưng văn hoá độc đáo của nhiều dân tộc anh em.

Du lịch Lào Cai hiện nay là một trong những trọng điểm du lịch của miền Bắc với những thắng cảnh Sa Pa thị trấn trong mây, chợ tình quyến rũ, đỉnh Phan Xi Păng và Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai Hà Khẩu.

Địa giới: Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, giáp ranh giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc. Phía Bắc Lào Cai giáp Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái.

Các điểm đến nổi bật của du lịch Lào Cai: Cổng trời Sapa: Ra khỏi thị trấn Sapa, đi theo hướng Bắc khoảng 18 km, đường lên cổng trời ngoằn ngoèo uốn lượn giữa lưng chừng núi trùng trùng điệp điệp với những bóng nắng chạy dài thoắt ẩn thoắt hiện. Con đường đèo này có tên là Trạm Tôn, len lỏi giữa dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ.

Và cổng trời chính là đỉnh của con đèo này. Cổng trời trở nên hấp dẫn du khách mỗi dịp đi du lịch Lào Cai Sapa, vì nhiều người tham quan Thác Bạc bao giờ cũng cố ngược lên cổng trời để ngắm cảnh sắc kỳ vĩ của núi rừng Hoàng Liên đã được vinh danh là “Vườn di sản Asian Sa Pa”.

Hang Tiên: Thắng cảnh Hang Tiên nằm tại xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Là một điểm du lịch Lào Cai nổi tiếng. Ngược dòng sông Chảy khoảng 6 km, từ trung tâm xã Bảo Nhai (huyện Bắc Hà) thuyền sẽ đưa bạn qua thành cổ Trung Đô với nhiều huyền thoại. Dòng sông Chảy đến đây thắt lại tạo thành dòng sâu, hiền hoà, len lỏi giữa hai bờ vách thành dựng đứng. Thắng cảnh Hang Tiên là một Hạ Long thu nhỏ, gắn liền với sự tích về miếu thờ Ba Cô xã Bảo Nhai.

Cốc San: Tọa lạc tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, cách thành phố Lào Cai khoảng 7km, Cốc San là một hệ thống các thác nước và các hang động to nhỏ khác nhau. Từ quốc lộ 4D, có một con đường đất nhỏ dài khoảng hơn 1km dẫn vào Cốc San. Vẻ đẹp của Cốc San vẫn hoàn toàn mang tính chất tự nhiên, hoang sơ.

Có một điều rất đặc biệt là hầu như ở mỗi gầm một con thác, sau làn nước đổ từ trên cao xuống lại có một hang động. Phong cảnh Cốc San mang vẻ đẹp huyền bí diệu kỳ toát lên từ những ngọn thác, những mô đá và những hang động.

Núi cô tiên: Một trong những điểm du lịch Lào Cai mà du khách không nên bỏ qua. Nằm trong vùng cao nguyên đá vôi của vòm sông Chảy. Gần thị trấn Bắc Hà, ở độ cao trên 1000m, du khách gặp núi Cô Tiên đứng sừng sững.

Trên vách đá phẳng rộng như được bàn tay nghệ nhân đẽo gọt tạo am nhỏ, đặt tượng bà Quan Âm mặt quay về phương Nam, du khách không những được thưởng thức những nét đẹp văn hoá truyền thống độc đáo của người vùng cao, mà còn được ngắm nhìn cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, và núi Cô Tiên sừng sững ngay trước mặt du khách.

Làng thổ cẩm Tả Phìn: Làng thổ cẩm Tả Phìn thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa Pa khoảng 17km về hướng đông. Sản phẩm của làng dệt thổ cẩm Tả Phìn đủ kiểu dáng và sắc màu trông thật bắt mắt. Một vài sản phẩm chính có thể kể đến là: những chiếc ba lô, túi khoác du lịch, những chiếc khăn, túi xách tay, ví đựng tiền, các tấm áo choàng thổ cẩm… với đủ sắc màu rực rỡ. Đây là một trong những món quà mà du khách đi du lịch Lào Cai thường mua cho người thân của mình khi đến nơi đây.

Chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ngắn Gọn 🌼 15 Mẫu Hay Nhất

Bài văn thuyết minh Giới Thiệu Về Thành Phố Lào Cai Hay Nhất giúp các em có thêm nhiều thông tin hay và hữu ích về nơi đây.

Lào Cai là một thành phố biên giới phía bắc, tỉnh lỵ của tỉnh Lào Cai, Việt Nam.

Thành phố Lào Cai có cửa khẩu quốc tế Lào Cai là nơi giao thương quan trọng ở phía bắc Việt Nam với phía nam Trung Quốc. Là địa đầu của đất nước, thành phố Lào Cai là cửa ngõ quan trọng mở cửa thị trường Việt Nam với các tỉnh phía tây nam Trung Quốc và cả các tỉnh nằm sâu trong nội địa Trung Quốc.

Thành phố Lào Cai có hai con sông chảy qua. Sông Nậm Thi chạy quanh phía bắc tỉnh, đồng thời là ranh giới tự nhiên với Trung Quốc. Nước sông quanh năm trong xanh, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nhà máy nước của thành phố. Sông Nậm Thi hợp lưu với sông Hồng ngay tại biên giới giữa thành phố Lào Cai và Trung Quốc.

Sông Hồng sau khi được Nậm Thi hợp lưu thì chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam, mang lại nguồn phù sa màu mỡ cho đồng bằng sông Hồng. Thành phố Lào Cai nằm hai bên bờ sông Hồng. Các cây cầu Cốc Lếu, Phố Mới,… bắc qua sông nối hai phần của thành phố.

Thành phố Lào Cai có 17 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 10 phường: Bắc Cường, Bắc Lệnh, Bình Minh, Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Lào Cai, Nam Cường, Pom Hán, Xuân Tăng và 7 xã: Cam Đường, Cốc San, Đồng Tuyển, Hợp Thành, Tả Phời, Thống Nhất, Vạn Hòa.

Lào Cai có đỉnh Phan Xi Păng (Đỉnh Phan Xi Păng không thuộc thị trấn Sapa) cao 3.143 m trên dãy Hoàng Liên Sơn. Dãy Hoàng Liên Sơn có nhiều loài gỗ quý và chim thú như gà gô, gấu, khỉ, sơn dương. Trong khu rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn còn có đến 136 loài chim, 56 loài thú và 553 loài côn trùng. Có 37 loài thú được ghi trong sách đỏ Việt Nam.

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử ❤️️17 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài văn thuyết minh Giới Thiệu Về Du Lịch Lào Cai Sinh Động được nhiều bạn đọc quan tâm và chia sẻ đến các bạn đọc sau đây.

Lào Cai mảnh đất vừa có núi rừng hoang sơ hùng vỹ, lại vừa mang trong mình sự sầm uất tấp nập của một thành phố ngày càng phát triển. Du lịch Lào Cai hiện nay đang thu hút du khách với nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng như: Sapa, Bát Xát, Simacai, đỉnh Fansipan (Phan Xi Păng),…

Lào Cai là một tỉnh miền núi Tây Bắc của nước ta. Là một tỉnh vùng cao nên sương mù thường xuất hiện phổ biến trên toàn tỉnh, có nơi ở mức độ rất dày. Bởi vậy khách du lịch thường đến Sapa, Y Tý,… để săn mây.

Mùa xuân khí hậu ở đây trong lành và thoáng đãng, hoa đào nở tươi thắm. Mùa hè những tiếng thác chảy rì rào. Mùa thu mát mẻ với những cánh đồng lúa chín vàng. Mùa đông tuyết rơi lãng mạn.

Nhà thờ đá Sa Pa:Tọa lạc ngay trung tâm TT. Sapa, nhà thờ Đá được xây dựng từ năm 1895 được coi là dấu ấn kiến trúc cổ toàn vẹn nhất của người Pháp còn sót lại. Nhà thờ đã được tôn tạo và bảo tồn, trở thành một hình ảnh không thể thiếu khi nhắc đến Sapa nói riêng và Lào Cai nói chung.

Núi Hàm Rồng là một ngọn núi nằm trong dãy Hoàng Liên Sơn. Núi Hàm Rồng là một trong số ít các núi ở Việt Nam có yếu tố tượng hình rất rõ nét và đẹp. Nằm sát thị trấn Sa Pa, cao gần 2.000m, để có thể leo lên đến đỉnh núi Hàm Rồng, bạn cần vượt qua những bậc thang đá, qua vườn hoa Hàm Rồng, trạm viễn thông Sapa, Sân Mây và Cổng Trời.

Khu du lịch núi Hàm Rồng nằm trên một khuôn viên rộng 148 ha. Núi cao 1.800m, trên núi xây dựng rất nhiều tiểu cảnh và không gian hoa rất đẹp. Vẻ đẹp hoang sơ của núi Hàm Rồng kết hợp với vẻ đẹp của các tiểu cảnh do con người xây dựng tạo nên một không gian hoa đầy màu sắc vô cùng hấp dẫn.

Bản Cát Cát là một làng dân tộc Mông thuộc xã San Sả Hồ, cách thị trấn SaPa khoảng 2 km. Làng Cát Cát được hình thành từ giữa thế kỷ 19 do một bộ phận dân tộc ít người quần tụ theo phương pháp mật tập. Gần nơi quần cư, người dân nơi đây trồng lúa, ngô trên các nương bậc thang. Đồng thời bảo lưu các nghề thủ công truyền thống như dệt vải, lanh,… Bản Cát Cát mộc mạc, đơn sơ nhưng vẫn toát lên một vẻ đẹp bình dị mà chỉ có tận mắt nhìn thấy ta mới biết nó đẹp đến thế nào.

Cách thị trấn Sa Pa khoảng 15km về phía tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Thác Bạc nằm ở xã Sán Sả Hồ, Sa Pa, Lào Cai. Nằm cách TT. Sapa khoảng 15km, đường vào thác Bạc khá thuận lợi vì nằm ngay cạnh QL4D.

Thác Bạc là thượng nguồn của dòng suối Mường Hoa thơ mộng. Đến du lịch Thác Bạc, du khách sẽ nhìn thấy dòng nước từ trên khe núi cao ầm ầm đổ xuống, bọt tung trắng xoá như những đóa hoa. Mỗi tầng thác là một cung bậc cảm xúc khác nhau. Nhiều người đã ví tiếng thác nước như tiếng đàn cầm bên tai.

Chia Sẻ Bài 💦 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ở Địa Phương Em❤️️ Bài Mẫu Hay Nhất

Cùng đón đọc bài văn thuyết minh Giới Thiệu Về Bảo Tàng Lào Cai được chúng tôi chia sẻ sau đây.

Bảo tàng tỉnh Lào Cai đang lưu giữ trên 16.000 tư liệu, hiện vật mang giá trị khảo cổ học, dân tộc học, những tư liệu cách mạng… Trải qua những thăng trầm của mỗi giai đoạn, hôm nay, trong dáng vẻ mới khang trang, Bảo Tàng tỉnh Lào Cai sẵn sàng mở cửa đón khách tham quan và cung cấp những tư liệu nghiên cứu quý giá cho các nhà khoa học, lịch sử, những người say mê khám phá về vùng đất Lào Cai giàu tài nguyên và đậm đà bản sắc.

Những hiện vật có niên đại hàng nghìn năm, những tri thức bản địa đã tồn tại và song hành cùng dân tộc, những công cụ trong sinh hoạt và lao động đã trở thành nét văn hóa. Tất cả những tư liệu, hiện vật ấy là sự đúc kết trong quá trình hình thành và phát triển của thiên nhiên, con người và vạn vật trên đất Lào Cai đang được trưng bày, giới thiệu tại Bảo Tàng tỉnh.

Thông qua đó, khách tham quan hoặc các nhà nghiên cứu có thể hình dung một cách sinh động về cuộc sống, lao động, nét văn hóa, tri thức dân gian của mỗi dân tộc gắn liền với từng giai đoạn.

Để có được những tư liệu, hiện vật quý giá, những người làm công tác nghiên cứu, sưu tầm đã mất khá nhiều công sức, thời gian. Họ lặn lội đến từng bản làng, ngõ ngách để tìm hiểu khi nắm bắt được thông tin về hiện vật và khám phá được tư liệu có giá trị. Mỗi cuộc tìm kiếm hiện vật, đều được lập kế hoạch, lên đề tài và tổ chức thực địa nắm bắt, sưu tầm. Nhiều tư liệu hiện vật được tìm thấy mang giá trị và đảm bảo các yếu tố để có thể phục vụ nghiên cứu và trưng bày.

Cùng với đó, Bảo tàng tỉnh Lào Cai còn phát động Cuộc Vận động hiến tặng tư liệu và hiện vật trưng bày cho Bảo tàng, qua đó, đã sưu tầm nhiều tư liệu, hiện vật quý phục vụ cho nghiên cứu và trưng bày, giới thiệu đến công chúng. Những tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai là những minh trứng về giá trị lịch sử, văn hóa, là kho tư liệu quý báu về vùng miền mà những người làm công tác bảo tồn, bảo tàng luôn cố gắng nỗ lực, dành sự trân trọng, nâng niu để công chúng hiểu được lịch sử quá trình phát triển mọi mặt ở Lào Cai.

Chia Sẻ Bài 🌹Thuyết Minh Về Đà Nẵng ❤️️15 Bài Giới Thiệu Đà Nẵng Hay

Giới Thiệu Về Sapa Lào Cai Ngắn Hay , cùng tham khảo bài văn sau đây để có những thông tin cần thiết để có dịp trải nghiệm vùng đất sở hữu thiên nhiên tươi đẹp, núi rừng hùng vĩ.

Sa Pa là một điểm du lịch cách trung tâm thành phố Lào Cai khoảng hơn 30 km. Nằm ở độ cao trung bình 1500 – 1800 m so với mặt nước biển, Thị Trấn Sapa luôn chìm trong làn mây bồng bềnh, tạo nên một bức tranh huyền ảo đẹp đến kỳ lạ. Nơi đây, có thứ tài nguyên vô giá đó là khí hậu quanh năm trong lành mát mẻ, với nhiệt độ trung bình 15-18°C.

Khách du lịch đến đây không chỉ để tận hưởng không khí trong lành, sự yên bình giản dị của một vùng đất phía Tây Bắc, mà Sapa còn là điểm đến để bạn chiêm ngưỡng những vẻ đẹp hoang sơ của những ruộng bậc thang, thác nước, những ngọn vúi hùng vĩ, khám phá những phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa của các dân tộc trên núi như : H’Mong đen, Dzao đỏ, Tày, Dzáy…

Sapa có đỉnh Fanxipang cao 3.143 m trên dãy núi Hoàng Liên Sơn. Gọi Hoàng Liên Sơn, bởi duy nhất trên dãy núi này có cây Hoàng Liên, một loại dược liệu quý, hiếm. Ngoài ra dãy Hoàng Liên còn là mỏ của loài gỗ quý như thông dầu, của bao chim thú, như gà gô, gấu, khỉ, sơn dương và của hàng ngàn loại thuốc. Khu rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn có 136 loài chim, có 56 loài thú, 553 loài côn trùng. Có 37 loài thú được ghi trong “sách đỏ Việt Nam. Rừng Hoàng Liên Sơn có 864 loài thực vật, trong đó có 173 loài cây thuốc.

Sapa có Núi Hàm Rồng ở sát ngay thị trấn, bất kỳ du khách nào cũng có thể lên đó để ngắm toàn cảnh thị trấn, thung lũng Mường Hoa, Sa Pả, Tả Phìn ẩn hiện trong sương khói. Hiện nay, với bàn tay tôn tạo của con người, Hàm Rồng thực sự là một thắng cảnh đầy hoa trái của Sapa. Và, nếu ai đã đến Thạch Lâm (Vân Nam, Trung Quốc) thì Hàm Rồng cũng có thể giúp các bạn tưởng tượng là Thạch Lâm được. Lên Hàm Rồng, du khách như lạc vào vườn tiên, mây ùa kín thân người, hoa rực rỡ mặt đất.

Sapa còn có Nhà Thờ Đá cổ ở ngay thị trấn và từ thị trấn đi ngược về hướng đông bắc trên đường đi tới động Tả Phìn có một tu viện được xây gần toàn như bằng đá tại một sườn đồi quang đãng, thoáng mát. Qua tu viện đi bộ ba cây số theo hướng bắc ta đến hang động Tả Phìn với độ rộng có thể đủ chứa một số lượng người cỡ trung đoàn của quân đội. Trong hang nhiều nhũ đá tạo nên những hình thù kỳ thú như hình tiên múa, đoàn tiên ngồi, cánh đồng xa, rừng cây lấp lánh.

Đặc biệt tại thung lũng Mường Hoa có 196 hòn chạm khắc nhiều hình kỳ lạ của những cư dân cổ xưa cách đây hàng ngàn vạn năm mà nhiều nhà khảo cổ học vẫn chưa giải mã được. Khu chạm khắc cổ đã được xếp hạng di tích quốc gia.

Từ thị trấn Sapa, đi về phía tây khoảng 12km trên đường đi Lai Châu, ta sẽ gặp Thác Bạc với những dòng nước đổ ào ào từ độ cao trên 200m tạo thành âm thanh núi rừng đầy ấn tượng.

Sa Pa với 6 tộc người cũng cư trú, mỗi tộc người có một vốn văn hoá riêng với các lễ hội như lễ hội “Roóng pọc” của người Giáy Tả Van, lễ hội “Sải Sán” (đạp núi) của người Mông, lễ “Tết nhảy” của người Dzao Đỏ, tất cả đều diễn ra vào tháng tết hàng năm. Sapa là “vương quốc” của hoa trái, như đào hoa, đào vàng to, đào vàng nhỏ, mận hậu, mận tím, mận tam hoa, hoa lay dơn, hoa mận, hoa lê, hoa đào, hoa cúc, hoa hồng…đặc biệt là hoa bất tử sống mãi với thời gian.

Chợ phiên của Sapa họp vào ngày chủ nhật tại huyện lỵ (thị trấn Sapa). Người dân ở vùng xa phải đi từ ngày thứ bẩy. Vào tối thứ bảy mọi người cùng thức vui với nhau bằng những bài hát dân ca của trai gái người Mông, người Dzao, bằng những âm thanh của đàn môi, của sáo, của khèn Mông, bằng những bát rượu tràn đầy của những người có tuổi…và người ta đã đặt cho nó là “chợ tình”.

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Cần Thơ ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Cần Thơ Hay

Bắc Hà là huyện vùng cao tỉnh Lào Cai. Người địa phương (người Tày, Nùng) gọi là Pạc Ha (nghĩa là trăm bó gianh). Thời Pháp thuộc, các dịch giả người Pháp gọi là PaKha. Bắc Hà cũng như các huyện, thị khác có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài. Từ thời Hùng Vương thuộc đất Tây Âu của Thục Phán; thời Bắc Thuộc thuộc châu Cam Đường, quân Giao Chỉ; thời Lý thuộc châu Đăng; đời Trần thuộc lộ Quy Hoá; từ thời nhà Lê đến thời Pháp chiếm đóng thuộc động Ngọc Uyển, châu Thuỷ Vĩ, phủ Quy Hoá.

Năm 1907, tình Lào Cai thành lập là một châu của Lào Cai. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Bắc Hà vẫn là một huyện của tỉnh Lào Cai gồm 4 tổng: Bắc Hà, Lùng Phình, Si Ma Cai và Bảo Nhai. Từ năm 1967, Bắc Hà được tách thành 2 huyện là Bắc Hà và Si Ma Cai thuộc tỉnh Lào Cai đến năm 1976 và Hoàng Liên Sơn đến năm 1979.

Từ năm 1979-1991, Bắc Hà và Si Mai Cai sáp nhập lấy tên là Bắc Hà , là một huyện của Tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ tháng 10/1991 – 10/2000 là huyện thuộc tỉnh Lào Cai . Tháng 9/2000 Si Ma được tách ra tái lập lại huyện Si Ma Cai, hiện nay Bắc Hà còn lại 20 xã và 1 thị trấn.

Bắc Hà có 14 dân tộc anh em cùng chung sống trong đó đông nhất là dân tộc Hmông, Dao, Tày, Nùng.

Thuộc vùng cao nguyên đá vôi và gồm nhiều dãy núi với thung lũng hẹp, đất nông nghiệp rất ít chủ yếu là đất lâm nghiệp, sông suối và có khí hậu á nhiệt đới , Bắc Hà có điều kiện thuận lợi phát triển các loại cây trồng , đặc biệt là cây ăn quả như mận tam hoa, mơ , lê , nhãn…

Bên cạnh các di tích lịch sử – văn hoá , Bắc Hà còn nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú như: núi Cô Tiên không chỉ đẹp về cảnh quan môi trường mà còn chức đựng nhiều truyền thuyết dân gian.

Hang Tiên ở Bảo Nhai với nhiều thắng cảnh đẹp kỳ vĩ có rừng nguyên sinh, những nhũ đá muôn hình vạn trạng, những chú voi, đại bàng, bồn tắm thiên nhiên, những hang lớn như mê cung huyền ảo, những rào luỹ đá, những tháp cổ to nhỏ, những đảo nắng đầy hoa thơm cỏ lạ, những truyền thuyết về miếu Ba cô có huyền bí thiêng liêng … mời bạn đi du lịch trên sông Nậm Chảy.

Đặc biệt, cùng với mận tam hoa Bắc Hà còn có rượu ngô bản Phố trong vắt thơm ngon. Có chợ văn hoá nơi gặp gỡ của biết bao tình duyên đôi lứa thấp thỏm đợi chờ và bịn rịn chai tay – nơi đây bán dủ các loại hoa thơm cỏ ngọt; trang phục thổ cẩm các dân tộc Hmông, Dao với nhiều loại hình hoa văn rực rỡ.

Có văn hoá ẩm thực với món ăn Thắng cố nghi ngút rượu nồng cùng với phở chua đầy hương vị rừng núi. Có các lễ hội Lồng Tồng cầu mưa với điệu múa xoè uyển chuyển của người Tày – Tà Chải, Na Hổi ; là những vốn văn hoá đặc sắc góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc.

Gợi Ý Bài 🌹 Thuyết Minh Về Cao Bằng ❤️️15 Bài Giới Thiệu Cao Bằng Hay

Thuyết minh Giới Thiệu Về Đặc Sản Lào Cai, cùng khám phá bài văn sau để có thêm nhiều thông tin về các món ăn đặc sản tại vùng đất này.

Lào Cai là một vùng văn hóa ẩm thực với nhiều món đặc sản độc đáo nức tiếng gần xa. Đặc sản Lào Cai là nơi hội tụ tinh hoa của đất trời, là món quà gắn kết giữa các vùng miền và con người với nhau.

Thắng cố không chỉ là một món ăn đặc sản độc đáo ở Lào Cai mà còn là đặc sản chung của người dân tộc ở vùng núi phía Bắc. Đây là món ăn đặc trưng truyền thống của người Mông. Thịt nấu “thắng cố” được chế biến từ thịt bò, thịt trâu, thịt ngựa và thịt lợn. Các bộ phận như: lòng, tim, gan, tiết, thịt, xương được tẩm ướp với các gia vị khác nhau như thảo quả, quế, hồi, sả, địa liền, hạt dổi,.. rồi đem ninh nhừ trong một chiếc chảo sâu lòng thật lớn. Khi ăn, chảo vẫn để trên bếp đun, ăn đến đâu múc ra bát đến đó.

Đây là món ăn thường được làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông người như hội làng, dòng họ, hay ở chợ phiên. Một bát thắng cố ngựa nóng hổi dậy mùi thơm của thịt, của gia vị nhâm nhi cùng một chén rượu ngô Bản Phố sẽ làm ấm lại không gian giữa tiết trời se lạnh.

Ở các tỉnh thuộc biên giới phía Bắc nước ta, đâu cũng thấy cây mận, mận Lào Cai, Lạng Sơn có màu hồng đỏ, mận Bắc Hà có vỏ màu xanh, mỗi loại mận đều có hương vị riêng và sắc màu khác nhau, song giống mận ngon nhất, đẹp mã nhất vẫn là giống mận tam hoa trồng ở đất Bắc Hà . Quả mận to, vị giòn ngọt, cùi màu đỏ. Mùa mận bắt đầu vào cuối tháng năm và kết thúc vào cuối tháng 6.

Đến Lào Cai mà không thưởng thức các món ăn chế biến từ cá hồi thì xem như chuyến đi của bạn chưa trọn vẹn. Đây là loại cá nước lạnh, được Sa Pa nuôi thành công từ nhiều năm nay. Cá hồi được chế biến thành nhiều món như gỏi cá hồi, nướng, canh chua, ruốc, lẩu…. Một chút cá hồi với các loại rau xứ lạnh cùng mấy chén rượu ngô của Bắc Hà hoặc Mường Khương sẽ mang lại cho bạn trải nghiệm ẩm thực chẳng thể nào quên ở mảnh đất xinh đẹp này.

Đây là loại gạo nổi tiếng ở Lào Cai về độ dẻo, thơm ngon. Gạo Séng Cù được trồng chủ yếu ở hai huyện Bát Xát và Mường Khương. Trong đó gạo ở Mường Khương vẫn được người dân đánh giá là thơm ngon hơn, nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao gấp 3 lần các loại gạo thông thường. Đến với Lào Cai nếu bạn đang đắn đo không biết mua gì về làm quà cho người thân thì gạo Séng Cù là một lựa chọn tuyệt vời.

Món ăn này được người dân nơi đây biến tấu từ thịt những con lợn rừng dai ngon, chắc thịt. Với những nguyên liệu tự nhiên từ ớt, lá quế, lá mít, lá trầu không, giềng và rượu nếp sẵn có; người dân nơi đây đã kết hợp với nhau thành một công thức riêng biệt để tạo lên món thịt lợn muối đủ vị chua cay mặn ngọt vô cùng độc đáo. Khi sử dụng thịt lợn muối có thể rang hay nướng tuỳ theo khẩu vị của từng gia đình.

Xem Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Đất Mũi Cà Mau ❤️️ 16 Bài Giới Thiệu Cà Mau

Thuyết Minh Về Một Tác Giả Văn Học Lào Cai, chia sẻ đến bạn đọc những thông tin hay và hữu ích về nhà văn – nhà báo Mã A Lềnh sau đây.

Nhà văn – nhà báo Mã A Lềnh: Ông sinh năm 1942 ở xã Trung Chải, thị xã Sa Pa và là nhà văn dân tộc Mông đầu tiên của tỉnh Lào Cai được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1982. Trước khi trở thành nhà văn – nhà báo chuyên nghiệp, ông là giáo viên dạy học ở quê nhà Sa Pa, sau đó được điều động về công tác ở Ty Giáo dục Lào Cai.

Ông đã từng công tác và giữ cương vị cán bộ chủ chốt tại Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Hoàng Liên Sơn, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Lào Cai, Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Lào Cai. Hiện nay, nhà văn Mã A Lềnh đã nghỉ hưu và tiếp tục sáng tác văn học, nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số tại thành phố Lào Cai.

Nhà văn Mã A Lềnh đã được trao nhiều giải thưởng của Trung ương và địa phương dành cho các tác phẩm xuất sắc trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật…

Một số tác phẩm của nhà văn Mã A Lềnh đã xuất bản: Nhọc nhoài với ký (năm 2000); Chuyện bây giờ mới kể (năm 1996); Cao nguyên trắng; Bên suối Nậm Mơ (năm 1995); Có một con đường (năm 1996); Thằng bé củ mài (năm 2000); Rong ruổi vùng cao (năm 2003); Cột mốc giữa lòng sông (năm 1984); Chộn rộn đường xuân (năm 2005). Chuyện xưa ở Mường Tiên (năm 2001). Dấu chân trên đường (năm 1996); Mã A Lềnh Thơ (năm 2002). Rừng xanh (năm 1997); Nàng Gua và chàng Sóc (năm 2001)…

Đặc biệt, năm 2024, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên đã xuất bản và phát hành cuốn sách “Tuyển tập Mã A Lềnh” dày hơn 1.000 trang giới thiệu những tác phẩm xuất sắc nhất của ông và có một số nghiên cứu sinh làm luận văn thạc sỹ, tiến sỹ về tác phẩm của nhà văn.

https://youtu.be/vzBHi2VY1Eg

SCR.VN Gợi Ý Bài 🌵Thuyết Minh Về Bình Thuận ❤️️ 16 Bài Giới Thiệu Bình Thuận

Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Lào Cai, cùng tham khảo bài văn hay giới thiệu về quần thể hang động Mường Vi nổi tiếng sau đây.

Cách thành phố Lào Cai 28 km về phía Tây Bắc qua huyện Bát Xát tới Bản Vược rẽ trái là đến xã Mường Vi – nơi có thung lũng rộng lớn, xung quanh là những dãy núi đá vôi trùng điệp tạo thành một quần thể hang động rộng lớn gọi là quần thể hang động Mường Vi. Nơi đây bao gồm các động Ná Rin, Cám Rang, Cám Rúm và Cám Tẳm đều khá đẹp, đây là một trong những di tích độc đáo và hấp dẫn của tỉnh Lào Cai.

Động Ná Rin là động lớn có rất nhiều nhũ thạch màu ánh bạc trong suốt đan xen vào nhau giống như những bức bình phong đơn giản về kiểu dáng nhưng toát lên vẻ đẹp sang trọng và nguyên sơ. Đầu nhũ thạch giống như giọt nước tinh khiết bắt nguồn từ dòng suối nhỏ nằm trên vách hang, nhũ đá tựa như những chiếc đèn chùm ánh pha lê to nhỏ khác nhau. Động Cám Rang nằm trên lưng chừng một quả núi ở vị trí cao ít hơi nước, màu nhũ hơi nâu sẫm nhưng rắn trắc.

Phía trong hang là những tảng đá có hình thù giống như quả bầu dài và mâm ngũ quả có màu vàng thu hút tầm mắt của mọi khách du lịch khi tới đây tham quan và khám phá. Phía trong động có cổng trời, trên cổng là dải nhũ đá trông như vương miện với những dải ren cầu kỳ óng ánh. Hấp dẫn không kém là các động Cám Rúm và Cám Tẳm, hai động này cũng có nhiều tảng đá với những hình thù độc đáo được phủ bởi nhũ thạch muôn màu sắc.

Riêng động Cám Tẳm chứa đựng nhiều yếu tố dân gian phong phú và hấp dẫn, nơi đây còn lại nhiều những vết tích cổ xưa, phản ánh đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng dân tộc Giáy. Động Mường Vi còn chứa đựng nhiều sự tích dân gian thần bí nói về ông vua người Giáy thông minh anh dũng với những chiến công chống giặc ngoại xâm bảo vệ làng bản như những đợt đắp suối ngăn nước chặn giặc, trồng tre tạo hàng rào chống giặc rất hiệu quả, rồi đến câu chuyện về con ngựa đá biết bay của ông Vua…

Ngoài ra còn có những câu chuyện dân gian kể về sự tích của các nàng tiên xinh đẹp hiền lành thường xuyên xuống giúp đỡ bà con trong những ngày mùa bận rộn trồng cấy và thu hoạch… Quần thể động Mường Vi là quần thể động lớn có nhiều đặc thù và giá trị nghiên cứu khác nhau, là nơi chứa đựng kho tàng dân gian phong phú về non nước và con người nơi đây, đồng thời cũng là nơi tìm hiểu nghiên cứu của những nhà địa chất học.

Đặc biệt quần thể động Mường Vi có một giá trị thực tiễn về chiến lược bảo vệ an ninh biên giới, làm giàu đẹp môi trường sinh thái của địa phương. Đây còn là nơi tìm hiểu các giá trị thẩm mỹ, cung cấp nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nhà nghiên cứu sáng tác về văn học và hội họa.

Hiện nay nơi đây đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học như: văn hóa, môi trường, du lịch, địa chất…nhằm khai thác bảo tồn phát huy các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển kinh tế cho địa phương. Quần thể động Mường Vi được nhà nước công nhận là Di tích Danh lam thắng cảnh Quốc gia theo quyết định số 38/QĐ-BVHTT ngày 11/6/199 của Bộ Văn hóa Thông tin.

Đọc Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Sapa ❤️️17 Bài Văn Giới Thiệu Về Sapa Hay

Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử Ở Lào Cai, Đền Cấm – một trong những địa danh nổi tiếng gắn liền với nhiều ý nghĩa văn hóa lịch sử.

Đền Cấm thuộc thôn Soi Mười xã Vạn Hòa ngôi đền được tọa lạc dưới chân quả đồi thấp, xung quanh cây trái tốt tươi, trước đền là 3 cây cổ thụ: cây si, cây mít và cây ngọc lan tỏa bóng mát.

Đền Cấm nằm ở khu vực phía Bắc thành phố Lào Cai, có truyền thuyết gắn liền với công cuộc 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, dưới sự chỉ huy của vua tôi nhà Trần và vai trò đặc biệt của Tướng quốc Trần Quốc Tuấn…

Ngôi đền được xây dựng và tồn tại cách đây gần 200 năm nay gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam nói chung và đồng bào các dân tộc Lào Cai nói riêng. Ngôi đền có truyền thuyết gắn liền với công cuộc 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông dưới sự chỉ huy của vua tôi nhà Trần đó là vị tướng quốc Trần Quốc Tuấn – người được phong hiệu “Vạn cổ anh linh Thượng đẳng phúc thần”.

Tương truyền rằng, năm 1257 Trần Quốc Tuấn hành quân lên biên giới chỉ huy quân phòng thủ chống quân xâm lược Mông Cổ (Thế kỷ XIII) có rất nhiều tướng lĩnh đã ngã xuống vùng đất nơi biên cương này.

Đền Cấm được xây dựng để tưởng nhớ 5 binh sĩ nhà Trần (không rõ tên tuổi). Hồi đó khu vực ga (Phố Mới ngày nay) là một cánh rừng nguyên sinh rậm rạp, trong một lần thị sát và chỉ huy phòng thủ biên giới (khoảng năm 1257), tướng Trần Quốc Tuấn đã chọn địa điểm ngôi Đền Cấm bây giờ làm trạm quân y tuyến 2 trong phòng thủ biên giới.

Sau đó trong các trận chiến đấu, thương binh được đưa về chữa trị dưới cánh rừng này, người dân bản địa lúc đó là người Việt, người Tày và người Giáy cũng đưa người ốm đau vào nhờ quân y chăm sóc giúp. Rồi có chuyện ly kỳ xảy ra đó là: đêm đêm có một thiếu nữ mặc váy áo màu xanh đến chữa thuốc cho mọi người, thiếu nữ chữa rất giỏi, ai được dùng thuốc đều khỏe mạnh, nhưng thầy thuốc thần kỳ chỉ xuất hiện vào ban đêm còn ban ngày không thấy xuất hiện.

Tìm hiểu bản xứ, người dân cho biết không có con cái nhà ai như vậy, sau đó người dân và quan binh đều tin rằng đó là hiển linh của Thánh Mẫu thượng ngàn giúp quan quân và nhân dân giữ nước. Ngay dưới Phương Đình bên cây mít cổ thụ này là 5 ngôi mộ của những quan binh đã xả thân vì nghĩa lớn.

Đền Cấm nằm ở vị trí trung tâm cánh rừng xưa, trước đây là một ngôi miếu nhỏ do quan binh và dân làng cùng nhau tạo tác, sau đó được chính thức khởi công xây dựng thành ngôi đền từ thế kỷ XVI, sau bao thăng trầm vẫn giữ được một số sắc phong và cây mít cổ thụ. Ngày nay, đền đã được trùng tu khang trang, to đẹp gồm 2 phần là tòa đại bái và hậu cung.

Đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian không những của người dân thành phố mà cả du khách thập phương, tô đẹp thêm truyền thuyết xưa – truyền thuyết về tình nghĩa quân dân nơi biên giới. Đền Cấm tổ chức lễ hội chính vào ngày thìn tháng bảy (âm lịch) hàng năm, làm lễ giỗ cho 5 vị binh sĩ nhà Trần.

Người dân coi đây là ngày giỗ “xóa tội vong nhân” cho 5 vị binh sĩ; do đó cùng nhau đóng góp gạo thịt…để tổ chức. Phần lễ của di tích được tổ chức khá khang trang theo trình tự. Bên cạnh phần lễ còn diễn ra phần hội được tổ chức vui vẻ với các trò chơi truyền thống như ném còn, đánh én…ngoài ra nơi đây còn là nơi tổ chức lễ hội xuống đồng hàng năm. Ngày 27/12/2001 Đền Cấm được công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc Gia theo Quyết định số 51/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa và Thông tin.

Tham Khảo Bài ❤️️ Giới Thiệu Về Đà Lạt ❤️️ 20 Bài Văn Thuyết Minh Đà Lạt Hay Nhất

Thuyết Minh Về Đền Mẫu Lào Cai hay nhất giúp các em vừa trau dồi thêm cho mình nhiều kiến thức hay và rèn luyện kĩ năng viết.

Đền Mẫu Lào Cai tọa lạc tại cộc mốc biên giới số 102 giữa Việt Nam và Trung Quốc, gần Cửa khẩu quốc Lào Cai; xưa thuộc phố Bảo Thắng, Châu Thủy Vĩ, Hưng Hóa; nay thuộc phường Lào Cai

Đền Mẫu Lào Cai được nhân dân vùng cửa ải Lê Hoa thuộc phố Bảo Thắng xưa, xây dựng từ thế kỷ 18. Ban đầu, đền chỉ là một ngôi thờ nhỏ bên bờ sông Hồng và sông Nậm Thi; qua nhiều lần trùng tu tôn tạo, ngôi đền hiện nay đã khang trang với 9 gian thờ.

Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, ngôi đền đã được ban sắc phong ba lần. Năm 2011, ngôi đền đã được ngành chức năng xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Vị thần được thờ chính ở đây là Liễu Hạnh công chúa. Ngoài ra, còn phối thờ các vị thần thánh khác, như: Ngọc Hoàng Thượng đế, Hoàng Bảy, Hoàng Mười, Quan lớn Thủ Đền, bà Đệ Nhị Sơn Trang, v.v… Các pho tượng thờ ở trong đền đều được sơn son thiếp vàng, và đều mang dáng vẻ uy nghi.

Từ xa xưa, người dân nước Việt đã phong bà là Mẫu Nghi Thiên hạ, với ước nguyện Thánh mẫu giúp cho “Thiên hạ Thái Bình- Quốc thái dân an- Phong đăng hoà cốc”.

Trong tiềm thức người dân Việt Nam, bà là Tiên nên có phép Tiên, là Phật nên mang tư tưởng Phật, là Thánh nên linh thiêng và là Mẫu nên có phẩm chất của người mẹ… Thánh Mẫu Liễu Hạnh hội tụ cả đức, hiếu, nghĩa của Nho giáo, có pháp thuật của Đạo giáo, tính thiện của Phật giáo. Vì vậy, Thánh mẫu Liễu Hạnh được nhân dân tôn vinh là một trong bốn vị thánh bất tử, được thờ cúng ở khắp mọi miền đất nước.

Ở Lào Cai, đền Mẫu được nhân dân vùng cửa ải Lê Hoa, phố Bảo Thắng, Châu Thuỷ Vĩ, tỉnh Hưng Hoá (thành phố Lào Cai nay) xây dựng từ thế kỷ 18 (cách đây khoảng 300 năm), nằm ngay vị trí cửa ngõ biên giới quốc gia, trên trục đường giao thương hai nước Việt Nam – Trung Quốc. Ngoài ý nghĩa tôn thờ vị Thánh Mẫu của dân tộc Việt Nam, đền Mẫu Lào Cai còn có vị thế quan trọng khẳng định vị trí, chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Đền Mẫu đã 3 lần được các triều đại phong kiến Việt Nam ban tặng sắc phong (hiện nay các sắc phong vẵn được lưu giữ). Mặc dù trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, nhưng đền Mẫu Lào Cai vẫn đang là cột mốc ghi đậm dấu ấn nơi biên cương phía Bắc Tổ quốc và là cội nguồn của lịch sử văn hoá dân tộc. Tiệc chính Mẫu đệ Nhất Liễu Hạnh được tổ chức vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm.

Đọc Thêm Bài 💦 Thuyết Minh Về Hà Giang ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hà Giang Hay

Thuyết minh Giới Thiệu Về Đền Thượng Lào Cai Văn Ngắn là tài liệu tham khảo hữu ích để ôn tập hiệu quả và đạt được điểm như ý.

Đền Thượng còn gọi là Thánh Trần Từ, được xây dựng vào thời Lê, niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), là nơi thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương – Trần Quốc Tuấn. Đền tọa lạc trên núi Mai Lĩnh trên độ cao 1200m so với mực nước biển, thuộc phố Bảo Thắng, Châu Thủy Vĩ, tỉnh Hưng Hóa nay là phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đền Thượng được Hưng Đạo Vương chọn làm nơi hỏa hiệu cho quân đội chống giặc phương Bắc. Đền Thượng được xây dựng theo lối kiến trúc cổ hình chữ Công (I), tuân theo thuyết phong thủy vừa đường bệ mà lại rất trang nghiêm. Khu vực đền Thượng có cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống với nét văn hóa bản địa, tạo cho ngôi đền mang dáng vẻ uy nghi lộng lẫy.

Soi mình bên dòng sông Nậm Thi, nơi đây xưa có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược phòng thủ chống quân xâm lược. Ngày nay, gần cửa ngõ giao thương giữa hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc), vùng đất linh thiêng nơi địa đầu Tổ quốc này mỗi năm đón hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước đến thăm quan.

Ngay từ khi bước chân đến cổng đền, du khách đã được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cây đa 300 năm tuổi đang vươn cành trổ tán, dưới bóng cây cổ thụ là miếu thờ Bà chúa Thượng Ngàn (Nữ chúa rừng xanh). Tương truyền, trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bà đã góp công đánh giặc bảo vệ bờ cõi nước Nam, ghi công ơn bà, nhân dân lập miếu thờ ngay dưới gốc cây đa xum xuê cành lá.

Đền Thượng được xây dựng khang trang với 7 gian thờ chính gồm: Cung thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, Cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu; Ban thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo; Cung thờ Đức vua cha Ngọc Hoàng… và các ban thờ phía Tả Vu – Hữu Vu thờ Chầu bà Đệ Nhị Sơn Trang, Thập Nhị Tiên Cô, Chầu hầu cận Chúa và Cậu Bé thủ đền… tất cả đều được sắp đặt theo trình tự.

Bên cạnh Đền Thượng là ngôi đình hình vuông với 4 cửa, 8 rồng chầu, giữa phương đình hình rùa vàng lưng đội bia đá khắc tích “Đức Thánh Trần”. Nơi đây trước kia là nơi nghỉ chân của các quan quân đi tuần, ngày nay, là rừng sinh thái với đủ các loại cây trồng bảo vệ môi trường, phục vụ du khách tham quan, nghỉ chân thưởng thức khí hậu trong lành.

Chia Sẻ Bài 💦Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Gia Lai ❤️️ 14 Bài Hay

Bài Văn Thuyết Minh Về Đền Thượng Lào Cai hay nhất với lối văn hấp dẫn, cách dùng từ ngữ sáng tạo.

Đền Thượng Lào Cai còn có tên Thánh Trần Từ, là một trong những danh thắng lịch sử của vùng Đông Bắc. Đền Thượng Lào Cai được xây trên đất thuộc phố Bảo Thắng, Châu Thủy Vĩ, tỉnh Hưng Hóa nay thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai gần 500m.

Đền Thượng được xây dựng vào thời Lê, niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705). Là nơi thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn, người đã có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ bờ cõi non song đất nước. Một Danh nhân lịch sử vĩ đại, vị Thánh linh thiêng tôn quý trong tâm thức của các thế hệ người Việt Nam.

Tọa lạc trên đồi Hỏa Hiệu thuộc dãy núi Mai Lĩnh với độ cao 1200m so với mực nước biển. Đền Thượng được xây dựng theo lối kiến trúc cổ hình chữ Công (I), tuân theo thuyết phong thủy vừa đường bệ mà lại rất trang nghiêm. Khu vực đền Thượng có cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống với nét văn hóa bản địa, tạo cho ngôi đền mang dáng vẻ uy nghi lộng lẫy.

Tại khu vực đền chính, bức hoành phi “Văn hiến tự tại” được treo trước Nghi môn, hai bên có hai câu đối: “Việt khí linh đài hoành không lập, Đông A hào khí vạn cổ tồn”, nghĩa là: “Nước Việt đài thiêng vắt ngang trời, Nhà Trần hào khí còn muôn thủa”. Mặt sau Nghi môn nội có dòng chữ “Quốc thái dân an” với hai câu đối: “Thiên địa dịu y, thiên địa cựu; Thảo hoa kim dị, thảo hoa tiền” nghĩa là: “Trời đất vẫn nguyên, trời đất cũ; Cỏ hoa nay khác, cỏ hoa xưa”.

Đền được xây rất lớn với 7 gian thờ chính gồm: Cung thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, Cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu; Ban thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo; Cung thờ Đức vua cha Ngọc Hoàng… và các ban thờ phía Tả Vu – Hữu Vu thờ Chầu bà Đệ Nhị Sơn Trang, Thập Nhị Tiên Cô, Chầu hầu cận Chúa và Cậu Bé thủ đền… tất cả đều được sắp đặt theo trình tự.

Bên Đền Thượng là ngôi đình hình vuông với 4 cửa, 8 rồng chầu, giữa phương đình hình rùa vàng lưng đội bia đá khắc tích “Đức Thánh Trần”. Nơi đây trước kia là nơi nghỉ chân của các quan quân đi tuần, ngày nay, là rừng sinh thái với đủ các loại cây trồng bảo vệ môi trường, phục vụ du khách tham quan, nghỉ chân thưởng thức khí hậu trong lành.

Đền Thượng nằm trong quần thể di tích văn hóa với chùa Tân Bảo, đền Am, đền Mẫu, đền Cấm, đền Quan. Đặc biệt, Đền Thượng là một trong những ngôi đền linh thiêng được nhiều người biết đến nhất trong hệ thống các đền, chùa ở Lào Cai. Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, năm 1996, Đền Thượng đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Hàng năm Đền Thượng tổ chức lễ hội vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Đón đọc bài văn thuyết minh Giới Thiệu Về Lào Cai Bằng Tiếng Anh giúp trau dồi thêm vốn từ vựng cho mình.

Lao Cai is a mountainous province in northern Vietnam. Lao Cai tourist area is known for the pristine beauty of the Northern Mountains. In addition to attractive landscapes, this is also the place where there are many historical sites, natural caves and unique culinary features bearing the unique cultural characteriss of many ethnic groups.

Lao Cai tourism is now one of the key tourist destinations of the North with the scenic Sa Pa town in the clouds, the charming market, the peak of Xi Pang and Lao Cai International Port. Area: Lao Cai is a border province in the Northern Midlands and Mountains, bordering the North West and the Northeast. Northern Lao Cai is bordered by China, Lai Chau province in the west, Ha Giang province in the east, and Yen Bai province in the south.

Tạm dịch

Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Khu du lịch Lào Cai được biết đến với vẻ đẹp hoang sơ của vùng núi phía Bắc. Ngoài danh lam thắng cảnh hấp dẫn, đây còn là nơi có nhiều di tích lịch sử, hang động tự nhiên và nét ẩm thực độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa đặc sắc của nhiều dân tộc.

Du lịch Lào Cai hiện nay là một trong những trọng điểm du lịch của miền Bắc với danh lam thắng cảnh thị trấn Sa Pa trong mây, chợ phiên hữu tình, đỉnh Xi Păng và Cảng quốc tế Lào Cai. Khu vực: Lào Cai là tỉnh biên giới thuộc Trung du và miền núi phía Bắc, có phía Tây Bắc và Đông Bắc giáp Tây Bắc. Phía bắc Lào Cai giáp Trung Quốc, phía tây giáp tỉnh Lai Châu, phía đông giáp tỉnh Hà Giang, phía nam giáp tỉnh Yên Bái.

Chia sẻ cơ hội 💧 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 💧 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Thuyết Minh Về Lạng Sơn ❤️️15 Bài Giới Thiệu Lạng Sơn Hay

Thuyết Minh Về Lạng Sơn ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Lạng Sơn Hay ✅ Tuyển Tập Văn Mẫu Đặc Sắc Và Khám Phá Về Vùng Đất Đông Bắc Của Nước Ta.

Bài văn thuyết minh Giới Thiệu Về Lạng Sơn Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn giúp các em có thêm nhiều thông tin hữu ích.

Nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Tổ quốc, Lạng Sơn là nơi có khá nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên; có đường biên giới giáp với Quảng Tây – Trung Quốc, có 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và các cặp chợ biên giới.

Lạng Sơn còn có các quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 và tuyến đường sắt liên vận quốc tế chạy qua; có nhiều thắng cảnh và di tích văn hoá, di tích lịch sử, như động Nhị Thanh, chùa Tam Thanh, núi Tô Thị, Chùa Tiên, khu du lịch nghỉ mát Mẫu Sơn, hệ thống các hang động ở Hữu Lũng, Chi Lăng, Bình Gia và Bắc Sơn,…

Lạng Sơn là nơi có nhiều dân tộc cùng chung sống, là sự hoà nhập của cộng đồng, những tập quán sinh hoạt, những phong tục hội hè, những phiên chợ vùng cao, những ngày hội Lồng thồng, những sắc màu trang phục truyền thống, những áng ca dao, cũng như những làn điệu dân ca, hát then, hát sli, hát lượn …. đều say đắm lòng người.

Ngoài ra quê hương Xứ Lạng còn có những nét văn hoá ẩm thực đặc sắc mang đậm những phong vị riêng như: phở chua, vịt quay, khau nhục, xá xíu, thịt lạp, xôi ngũ sắc, bánh cuốn, bánh phồng, măng ớt, khẩu Shi …

Cùng với các món ăn đó, các loại hoa quả tại vùng quê Xứ Lạng cũng đa dạng phong phú như: mơ, lê Tràng Định, mận Bình Gia, quýt Bắc Sơn, hồng không hạt Bảo Lâm, na Chi Lăng, đào Mẫu Sơn… Sự phong phú, đa dạng và độc đáo của các sản phẩm ẩm thực của Lạng Sơn sẽ là ấn tượng sâu sắc đối với du khách sau mỗi lần đến thăm, tìm hiểu và thưởng thức.

Vị trí của Lạng Sơn trở nên quan trọng cho ngành du lịch của tỉnh nhà và cho ngành du lịch cả nước. Đặc biệt từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối chính sách đổi mới và hội nhập, các hệ thống trung tâm thương mại, các khu kinh tế cửa khẩu và chợ biên giới tại Lạng Sơn được xây dựng và nâng cấp, cùng với các thủ tục hành chính được cải cách thuận tiện….

Nên việc giao lưu buôn bán và tham quan du lịch ngày càng diễn ra sôi động, từng bước đưa Lạng Sơn trở thành một trong những trung tâm giao lưu buôn bán, tham quan quan du lịch với các loại hình như: du lịch mua sắm, du lịch tâm linh, du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch biên giới và sang nước bạn Trung Quốc.

SCR.VN tặng bạn 💧 Giới Thiệu Về Một Danh Lam Thắng Cảnh 💧 17 Bài Văn Hay

Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ biên giới.

Mặt khác, có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, khoa học – công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với Trung Quốc và qua đó sang các nước vùng Trung Á, châu Âu và các nước khác…

Địa hình ở Lạng Sơn chủ yếu là đồi, núi thấp, độ cao trung bình là 252 m so với mực nước biển, nơi thấp nhất là 20 m, cao nhất là đỉnh Phia Mè thuộc khối núi Mẫu Sơn 1.541 m.

Địa hình được chia thành 3 tiểu vùng, vùng núi phía Bắc (gồm các núi đất xen núi đã chia cắt phức tạp, tạo nên nhiều mái núi có độ dốc trên 350), vùng núi đá vôi (thuộc cánh cung Bắc Sơn – Văn Quan – Chi Lăng – Hữu Lũng có nhiều hang động sườn dốc đứng và nhiều đỉnh cao trên 550 m), vùng đồi, núi thấp phía Nam và Đông Nam bao gồm hệ thống đồi núi thấp xen kẽ các dạng đồi bát úp, độ dốc trung bình 10 – 250…

Nền nhiệt không quá cao là nét đặc trưng của khí hậu Lạng Sơn. Mùa đông tương đối dài và khá lạnh, lượng mưa trung bình năm là 1.400 – 1.500 mm, với số ngày mưa là 135 ngày trong năm. Nền địa hình cao trung bình là 251 m, do vậy tuy nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, nhưng khí hậu ở Lạng Sơn có nét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới.

Độ ẩm cao (trên 82%) và phân bố tương đối đều trong năm. Sự phân bố khí hậu này đã cho phép Lạng Sơn có thể phát triển đa dạng phong phú các loại cây trồng ôn đới, á nhiệt đới, và nhiệt đới. Đặc biệt là các loại cây trồng dài ngày như hồi, trám, quýt, hồng, đào, lê, thông, cà phê, chè, và các cây lấy gỗ…

Lạng Sơn là một tỉnh có lợi thế lớn về phát triển ngành du lịch, bởi sự kết hợp phong phú, hài hòa giữa vị trí địa lý, thiên nhiên, lịch sử và con người. Lạng Sơn là vùng biên giới, cửa khẩu ở phía Bắc nước ta, lại nằm trên đường giao thông hết sức thuận lợi nối với thủ đô Hà Nội, thường xuyên thu hút khách du lịch tham quan, giao lưu, trao đổi, hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ngoài ra, thiên nhiên đã ban tặng cho Lạng Sơn nhiều hang động, núi rừng tự nhiên và phong cảnh đẹp với khí hậu mùa hè mát mẻ, dễ chịu, được coi là một điểm nghỉ mát, an dưỡng lý tưởng đối với các du khách từ xa đến như động Tam Thanh, động Nhị Thanh, núi nàng Tô Thị, khu du lịch Mẫu Sơn… Lạng Sơn còn là nơi nổi tiếng với nhiều địa danh lịch sử như ải Mục Nam Quan, ải Chi Lăng, Thành nhà Mạc đã bao lần chứng kiến các trận đánh đuổi quân xâm lược trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước, hay với nền văn hóa Bắc Sơn, căn cứ Cách mạng Bắc Sơn.

Con người cần cù mến khách cùng với các lễ hội, truyền thống văn hóa làm cho Lạng Sơn luôn là điểm du lịch hấp dẫn đối với khách thập phương.

Chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ngắn Gọn 🌼 15 Mẫu Hay Nhất

Thành phố Lạng Sơn – vùng đất đã trải qua thời kỳ Châu lỵ, Trấn lỵ và đến năm 1925 được thành lập, trở thành thị xã tỉnh lỵ, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của Tỉnh.

Đây là nơi có nhiều hang động, di tích lịch sử nổi tiếng như quần thể hang động Nhất, Nhị, Tam Thanh, Nàng Tô Thị, Thành Nhà Mạc, Chùa Tiên, Giếng Tiên… cùng các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc đã từng hấp dẫn khách bốn phương từ ngàn xưa. Sự hội tụ của các điều kiện địa lý, thiên nhiên, hoàn cảnh lịch sử và con người đã tạo cho Thành phố Lạng Sơn thế mạnh phát triển đô thị, trở thành trung tâm Chính trị – Kinh tế – Văn hoá của tỉnh Lạng Sơn và vùng Đông Bắc Tổ quốc.

Thành phố Lạng Sơn thuộc loại hình đô thị thương mại ra đời từ khá sớm, được hình thành theo phương thức “Thị” có trước ” đô ” có sau. Đây là nơi có những địa danh nổi tiếng đã đi vào ca dao, dân ca Việt Nam với những lời ca mượt mà, tha thiết:

Ngày nay Thành phố Lạng Sơn là một Thành phố trẻ, Thành phố thương mại cửa khẩu đang trên đà phát triển sôi động, là cửa ngõ giao lưu Kinh tế – Văn hoá của cả nước với đất nước Trung Quốc và các nước Đông Âu, là địa bàn quan trọng có mối quan hệ mật thiết với vùng tam giác kinh tế trọng điểm của miền bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử ❤️️17 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài thuyết minh Giới Thiệu Về Du Lịch Lạng Sơn Đặc Sắc là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn đọc để ôn tập thật tốt.

Các địa điểm du lịch Lạng Sơn gắn liền với lịch sử:

Lạng Sơn nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam với nhiều di tích lịch sử cùng cảnh quan tuyệt đẹp mà thiên nhiên ưu ái ban tặng. Nơi đây còn là mảnh đất linh thiêng, hội tụ “Trấn doanh bát cảnh” với 7 con sông và 8 di tích cổ.

Thành nhà Mạc là quần thể kiến trúc quân sự được xây dựng vào thế kỉ XVI, dưới thời phong kiến Việt Nam, dùng để chắn con đường độc đạo từ Ải Bắc xuống phía Nam. Hiện nay, thành nhà Mạc chỉ còn lại đoạn tường dài 300m với những khối đá lớn phủ đầy rong rêu.

Đứng trên cổng thành nhuốm màu thăng trầm lịch sử, du khách có thể ngắm toàn cảnh thành phố Lạng Sơn xinh đẹp. Vượt đoạn đường gồm nhiều bậc thang từ chân đồi lên đến đỉnh, bạn sẽ được chiêm ngưỡng núi non trùng điệp, phố phường sầm uất và tận hưởng bầu không khí thoáng đãng, trong lành nơi đây.

Thành cổ Lạng Sơn nằm tại phường Chi Lăng, Lạng Sơn và là một trong những di tích lịch sử cấp Quốc gia. Nơi đây từng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Lạng Sơn với các hoạt động giao thương sôi nổi.

Thành cổ Lạng Sơn được xây theo hình chữ nhật với 4 cửa ứng với 4 hướng, được gọi là “Tứ trấn”. Hiện tại, chỉ còn 2 cổng thành phía Tây và phía Nam là còn nguyên vẹn. Thành cổ được xây dựng bằng những khối bản lề và những viên đá lớn chạm trổ rất công phu. Đi du lịch Lạng Sơn, bạn đừng bỏ qua di tích thành cổ Lạng Sơn. Hãy đến đây để được ngắm nhìn và khám phá một phần lịch sử của đất nước.

Núi Tô Thị hay còn gọi là núi Vọng Phu nằm ở xã Tam Thanh, Lạng Sơn. Tương truyền ngày xưa, có sự tích nàng Tô Thị bồng con chờ chồng đi đánh giặc trở về. Chờ mãi không thấy bóng dáng chồng, hai mẹ con nàng hoá đá. Ngày nay trên đỉnh núi Tô Thị có một tảng đá tự nhiên với hình dạng khá giống người phụ nữ bế con, nên được người đời đặt tên là núi Vọng Phu như một biểu tượng cho tấm lòng thuỷ chung son sắt của phụ nữ Việt.

Nằm ngay cạnh quần thể danh lam thắng cảnh Tam Thanh, núi Tô Thị là cảnh đẹp Lạng Sơn nổi tiếng bậc nhất và cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật qua bao nhiêu thế hệ. Bất cứ ai đặt chân đến xứ Lạng đều mong muốn được một lần chiêm ngưỡng thắng cảnh này.

Lạng Sơn có gì khiến du khách phải mê đắm đến thế? Hãy thử một lần du lịch Chi Lăng, Lạng Sơn để tìm kiếm câu trả lời. Ải Chi Lăng là cửa ải lịch sử tiêu biểu của Lạng Sơn, nằm tại xã Chi Lăng. Xưa kia, khu vực này được coi là tường chắn của Thăng Long để ngăn chặn những cuộc viễn chinh phương Bắc.

Ải Chi Lăng có quy mô rất hoành tráng với chiều dài lên tới 20km, nối liền Chi Lăng và Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn. Ải Chi Lăng là chứng tích lịch sử của nhiều cuộc chiến vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Phía Tây được bao bọc bởi núi Kai Kinh, hai đầu ải là những núi đá cao chót vót, tạo thành thế hiểm trở, góp phần làm nên chiến thắng chống quân Minh và đánh tan quân xâm lược nhà Thanh.

Có rất nhiều địa điểm du lịch Lạng Sơn cần khám phá. Vì vậy theo kinh nghiệm của mình, du lịch Lạng Sơn 1 ngày là chưa đủ, bạn nên sắp xếp thời gian để có những chuyến du lịch Lạng Sơn 2 ngày 1 đêm, tham quan trọn vẹn những cảnh đẹp vùng đất này.

Chia Sẻ Bài 💦 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ở Địa Phương Em❤️️ Bài Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Lễ Hội Ở Lạng Sơn, cùng đón đọc bài văn ngắn viết về lễ hội đền Kỳ Cùng nổi tiếng sau đây.

Lễ hội đền Kỳ Cùng là một trong những lễ hội văn hóa đặc sắc ở Lạng Sơn. Đây là dịp để người dân các dân tộc gặp gỡ, vui chơi, ca hát, thực hiện những nghi lễ cầu cúng, mong đạt được những ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp, may mắn cho một năm mới ấm no, hạnh phúc. Lễ hội được tổ chức từ ngày 22 đến 27 tháng Giêng hàng năm tại đền Tả Phủ. Sáng 5/3, nghi lễ rước diễn ra sôi động một vùng thành phố.

Đoàn kiệu rước trang hoàng lộng lẫy. Thanh niên trai tráng ăn mặc chỉnh tề được gọi là “Đồng nam” khiêng kiệu. Một tốp thiếu niên gọi là “đồng tử” khiêng đỉnh hoàng trầm cùng đội sư tử Kỳ Lừa múa một vòng rồi thẳng xuống đền Kỳ Cùng. Hội Kỳ Cùng nhằm tôn vinh, tưởng nhớ các vị khai quốc công thần hiển thánh trong phong tục thờ Đạo Mẫu.

Tại lễ hội du khách có thể chứng kiến các nam thanh niên trong trang phục các Chầu, Chúa hay Cô Bé – biểu trưng cho những người được nhân dân tôn thờ vì có công khai khẩn đất đai hay dạy nghề cho bà con các dân tộc. Các em nhỏ tham gia lễ hội trong trang phục dân tộc sặc sỡ. Lễ hội Kỳ Cùng đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Hội Kỳ Cùng còn được biết đến với cái tên Hội Liên gia. Những ngày này còn là dịp họp mặt các chi họ và các hộ dân trong khu dân phố cùng nhau dựng rạp làm cỗ và sinh hoạt văn nghệ. Các gia đình có điều kiện thì tổ chức mời bạn bè khắp nơi tới tham dự khám phá nét văn hóa xứ Lạng. Trên quãng đường đoàn kiệu rước đi qua, các gia đình đều bầy biện mâm lễ cúng xôi, gà, hoa quả để nghênh đón và cầu may, cầu tài lộc…

Các mâm lễ vật dâng cúng không thể thiếu vật phẩm lợn quay, đặc sản của Lạng Sơn. Các Liên gia tề tựu đông đủ để cung đón đoàn rước đi qua. Họ sẽ rất phấn khởi khi được các đoàn lân sư ghé vào chúc tài lộc. Các tuyến phố nơi đoàn rước đi qua chật kín người dân và du khách

Mỗi khi đoàn rước đi qua người dân hai bên đường bái lạy bài vị các khai quốc, công thần. Ngoài nghi thức rước kiệu, lễ hội còn nhiều trò vui chơi khác thu hút du khách như múa sư tử, diễn xướng dân gian, hát Sli, hát lượn…

Lễ hội đền Kỳ Cùng, Tả Phủ – hội đầu pháo – hội Liên gia là hoạt động văn hóa tín ngưỡng dân gian truyền thống sinh động, rực rỡ sắc màu, trở thành điểm đến hấp dẫn của nhân dân trong tỉnh và khách thập phương dịp đầu năm.

Chia Sẻ Bài 🌹Thuyết Minh Về Đà Nẵng ❤️️15 Bài Giới Thiệu Đà Nẵng Hay

Thuyết Minh Về Cây Hồi Lạng Sơn Ngắn Hay, một loài cây rất quen thuộc và nổi tiếng tại vùng đất xứ Lạng này.

Nằm ở nơi địa đầu Tổ quốc, tỉnh Lạng Sơn không chỉ được biết đến với những hoạt động thương mại sầm uất tại các cửa khẩu, với những danh thắng đã đi vào ca dao: “Đổng Đãng có phố Ki Lừa/ Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh” mà còn được biết đến là mảnh đất thiên đường của nhiều loài cây hữu ích như quýt Bắc Sơn ngọt lành, na Hữu Lũng thơm ngon và đặc biệt là những rừng hồi bạt ngàn và quý giá.

Cây hồi vốn không chỉ có ở Lạng Sơn mà còn phân bố rộng rãi ở cả vùng Đông Á, một số tỉnh phía Nam Trung Quốc, Việt Nam, Philippin và Jamaica. Ở nước ta, hổi được trồng nhiều tại Cao Bằng, Bắc Thái, Quảng Ninh nhưng riêng diện tích hồi ở tỉnh Lạng Sơn đã chiếm hơn 70% của cả nước. Cây hổi là biểu tượng của mảnh đất xứ Lạng, sinh sống ở hầu khắp các huyện, xã của tỉnh như Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Lãng, thành phố Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, Tràng Định… do thích hợp về thổ nhưỡng, địa hình và khí hậu.

Cây hồi xứ Lạng là cây gỗ lâu năm họ Hổi (Illiciaceae), thuộc nhóm Đại hồi. Hồi sống tại các rừng có độ cao 200m – 600m, nhiệt độ trung bình khoảng 8 – 22 độ c. Cây ưa lớp đất mặt dày, độ phì cao, thoát nước tốt, có độ PH 5-8, đặc biệt là đất Feralit màu đỏ, màu nâu đến màu vàng, phát triển trên sa diệp thạch. Cây hổi xứ Lạng là cây gỗ lâu năm họ Hồi (Illiciaceae), thuộc nhóm Đại hồi. Hổi sống tại các rừng có độ cao 200m – 600m, nhiệt độ trung bình khoảng 8 – 22 độ c.

Cây ưa lớp đất mặt dày, độ phì cao, thoát nước tốt, có độ PH 5-8, đặc biệt là đất Feralit màu đỏ, màu nâu đến màu vàng, phát triển trên sa diệp thạch. Cây hổi cũng ưa sáng, song ở giai đoạn non lại cẩn được che bóng.

Hồi Lạng Sơn cũng là loài cây mạnh khi phải đương đẩu với gió mùa Đông Bắc và sương muối trong ba đến bốn tháng của năm. về kích thước, cây thuộc dạng nhỡ có thể cao từ 6m đến l0 m, phát triển chiều cao nhanh trong giai đoạn sinh trưởng đẩu. Đến 5-6 năm tuổi, cây có thể cao tới 9 – lOm. Thân thẳng to, cành thẳng nhẵn, lúc non màu lục nhạt sau chuyển sang màu nâu xám.

Trên từng cành hồi, lá mọc so le, phiến lá nguyên, dày, nhẵn bóng, hình mác hoặc trứng thuôn. Nhưng đẹp nhất phải nói đến những bông hoa hồi, khi trổ bông, hoa mọc đơn độc ở nách lá, có khi xếp hai đến ba bông. Mỗi bông có năm đến sáu cánh hoa đều nhau màu hổng thẫm. Hổi đơm hoa khoảng tháng ba đến tháng năm, kết trái khoảng tháng sáu đến tháng chín.

Quả hồi thuộc nhóm quả kép, gồm sáu đến tám đại hoặc nhiều hơn, xếp thành hình sao đường kính 2,5-3cm. Quả hồi khi còn non màu lục và khi già màu nâu sẫm, mỗi đài dài 10-15mm, có mũi nhọn ngắn ở đầu. Hạt hồi hình trứng, nhẵn, bóng. Bởi hình dáng đặc biệt ấy, vừa xòe nhiều cánh như bông hoa lại có hương thơm nên hầu hết mọi người gọi quả hổi là hoa hổi.

Cây hồi trở thành biểu tượng của tỉnh Lạng Sơn bởi nó chứa đựng nhiều giá trị phong phú và quý giá. Cây hổi có mặt trên thị trường kinh tế lâm nghiệp, trong y học, trong ẩm thực, trong các chuyến du lịch và trong cả lời ca tiếng hát cùng các hoạt động văn hóa đẹp đẽ nơi đây.

https://youtu.be/X3SIQB7LJlE

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Cần Thơ ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Cần Thơ Hay

Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử Ở Lạng Sơn, cùng đón đọc bài văn giới thiệu về Thành Nhà Mạc, toàn thành cổ hiếm hoi còn xót lại.

Thành Nhà Mạc Lạng Sơn nằm trong khu vực phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn đã được xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia và được đầu tư, tôn tạo nhằm phục vụ khách du lịch và người dân quanh vùng tham quan, vãn cảnh.

Dấu tích của thành Nhà Mạc Lạng Sơn hiện nay còn lại gồm 2 đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn giữa hẻm núi, từ chân núi dẫn lên cổng thành hơn 100 bậc tam cấp được xây dựng để tạo thuận lợi cho du khách lên tham quan.

Vào tới trong thành là một khu đất trống rộng hàng trăm m2; bao xung quanh ngoài những đoạn tường thành có 3 đỉnh núi cao hàng chục mét. Để du khách lên các đỉnh núi thăm quan, ngắm cảnh là hàng trăm bậc thang được xây dựng uốn lượn, do vậy đây là một địa điểm lý tưởng để cho du khách và người dân tham quan, vãn cảnh.

Vào những ngày lễ, tết, ngày nghỉ lượng du khách về đây tham quan tương đối đông, một phần do vị trí của di tích thuận tiện nằm trong quần thể Di tích núi Tô Thị, Động Tam Thanh, Nhị Thanh, một phần vì sự độc đáo của danh thắng này nên không chỉ du khách phương xa mà các bạn trẻ trong vùng và người dân sinh sống xung quanh danh thắng cũng chọn nơi đây là điểm dã ngoại, tập thể dục để được thưởng thức không khí trong lành.

Gợi Ý Bài 🌹 Thuyết Minh Về Cao Bằng ❤️️15 Bài Giới Thiệu Cao Bằng Hay

Với quy mô đồ sộ, địa thế hiểm trở, Ải Chi Lăng được coi là bức tường thành bảo vệ Thăng Long trước những cuộc thảo phạt của quân xâm lược phương Bắc. Các trận chiến ở Ải Chi Lăng thể hiện tài thao lược, trí tuệ của cha ông ta trong công cuộc bảo vệ đất nước. Huyện Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn nổi tiếng bởi có Ải Chi Lăng với khung cảnh núi non hùng vĩ gắn với những chiến công vang dội hào hùng của dân tộc.

Khu di tích Ải Chi Lăng nằm cách thành phố Hà Nội khoảng 150km, thuộc huyện Chi Lăng. Xưa kia nơi đây là cửa ải thuộc trấn Khâu Ôn, Lạng Sơn và ghi dấu rất nhiều trận chiến lịch sử, lưu giữ nhiều chiến công oai hùng cho đất nước. Nay ải có quy mô dài 20km, chiều rộng 3km và là điểm nối giữa hai huyện Chi Lăng và Hữu Lũng của Lạng Sơn.

Ải Chi Lăng không chỉ là một địa danh đẹp đứng sừng sững giữa đất trời mà ẩn sâu trong đó còn là sức sống mãnh liệt một thời của hào khí Đông A. Xưa kia, chính nhờ địa hình độc đáo với những dãy núi cao, cây cối bao phủ, Ải Chi Lăng tạo nên một trận đồ hiểm yếu và trở thành bức tường thành bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa trước những cuộc xâm lược của quân giặc phương Bắc. Lịch sử của vùng biên ải này gắn liền với nhiều anh hùng hào kiệt như Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt, Hoàng Đại Huề…

Chi Lăng ghi dấu những chiến thắng hào hùng của dân tộc với tầng tầng lịch sử, lớp lớp chiến công của cha ông ta với 2 lần chống quân Tống xâm lược (năm 981 và 1077), 2 lần kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược (năm 1285 và 1287), cuộc chống quân xâm lược Mãn Thanh (năm 1788 – 1789), đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ những năm 1882 – 1888.

Trong lịch sử, vùng biên ải này là nơi liên tục diễn ra các trận đánh mang tính chiến lược trong lịch sử quân sự Việt Nam, mà đỉnh cao là chiến thắng Chi Lăng (10/10/1427) quân và dân ta đã lập nên một chiến công vang dội triệt hạ đạo quân tiếp viện hơn 10 vạn quân Minh do Liễu Thăng chỉ huy, góp phần kết thúc trường kỳ kháng chiến, lật đổ ách đô hộ của Nhà Minh giành lại trọn vẹn non sông, đất nước.

Có thể nói các chiến thắng Ải Chi Lăng Lạng Sơn đã khẳng định ý chí chiến đấu bảo vệ non sông của người dân nước Nam và đập tan ý đồ xâm lược của mọi kẻ thù.

Ngày nay, Ải Chi Lăng trở thành một khu di tích lịch sử có phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ thu hút nhiều du khách. Đến thăm Ải Chi Lăng, du khách sẽ được chứng kiến cảnh sông Thương hiền hòa và núi non trùng điệp nương tựa vào nhau tựa như một bức tranh sơn thủy hữu tình, vừa oai nghiêm, hùng vĩ vừa thơ mộng.

Quần thể Ải Chi Lăng được gọi là “Bảo tàng lịch sử ngoài trời lớn nhất” với 52 điểm di tích (bao gồm cả các di tích, dấu tích, địa danh hiện còn và các câu chuyện truyền miệng trong dân gian). Tuy nhiên hiện chỉ còn chính thức 46 điểm di tích, địa điểm còn được ghi nhận còn 6 điểm khác đã mất dấu tích.

Trải khắp thung lũng và ven đường cái quan còn rải rác nhiều ngọn núi thấp như: Mã Yên, Hàm Quỷ, Kỳ Lân, Phượng Hoàng, Nà Nông, Nà Sản…

Ải Chi Lăng có 2 cửa: phía Bắc là Quỷ môn quan và phía Nam là Ngõ Thề (Lũy Ngõ Thề). Cách Ải Chi Lăng khoảng chừng 100m là ngọn núi với cái tên rất độc đáo: núi Mặt Quỷ. Sở dĩ được đặt tên vậy bởi trên vách núi có những hõm vách đá tạo thành hình dáng khuôn mặt được người dân cho rằng giống mặt quỷ. Điều thú vị là người dân địa phương không coi núi là biểu tượng của cái ác, nỗi sợ mà ngược lại như một vị thần hộ mệnh, bảo vệ cuộc sống bình yên nơi đây.

Đến thăm Ải Chi Lăng – Quỷ Môn Quan, du khách có thể đăng ký nghe thuyết minh viên của Nhà trưng bày chiến thắng Chi Lăng để biết thêm về lịch sử, lòng quả cảm của quân dân Việt Nam trong suốt mấy nghìn năm dựng và giữ nước.

Xem Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Đất Mũi Cà Mau ❤️️ 16 Bài Giới Thiệu Cà Mau

Tham khảo bài văn hay Thuyết Minh Về Chùa Tiên Lạng Sơn để có thêm nhiều thông tin hay và hữu ích.

Chùa Tiên còn được gọi là chùa Song Tiên, toạ lạc tại tuyến phố Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Chùa nằm tại lưng chừng núi Đại Tượng,, quả núi đá hình tượng một con voi nằm về phía Nam tp Lang Sơn, cách cầu Kỳ tầm 500m, trên đường đi Mai Pha.

Trong lòng núi này có một động lớn, trong động có chùa Tiên được xây dựng vào thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497). Du khách khi đặt chân vào chùa sẽ thấy một nhũ đá to tựa hình người ngồi trên bệ đá. Theo truyền thuyết thì đó là tiên ông từ thượng giới xuống trần dẫm chân xuống biến thành giếng nước để giúp dân chống hạn.

Người dân trong vùng gọi giếng nước này là giếng Tiên vì màu nước trong vắt và đầy quanh năm. Từ đó người dân lập bàn thờ tiên ông và tôn thành thần nông và hàng năm đến ngày 18 tháng giêng âm lịch người ta mở lễ hội cúng thần Nông để nhớ ơn.

Theo sử sách, chùa trước đây là một miếu nhỏ cạnh giếng Tiên trên sườn núi Đèo Ngan – Văn Vỉ. Sau đó, giữ thế kỷ 18 xuống cấp, chùa được chuyển vào động Song Tiên.

Khi thăm quan chùa, du khách sẽ thấy được hệ thống 13 bia Ma Nhai. Đây được xem là nguồn sử liệu quan trọng về di tích có giá trị văn hoá nghệ thuật do các văn nhân thi sỹ, quan lại, bật kỳ tài trong thời đại phong kiến nước ta lưu lại.

Nội dung bia là ca ngợi vẻ đẹp của núi Đại Tượng, ghi lại những lần trùng tu tôn tạo di tích người xưa. Nơi đây nằm trong top 8 cảnh đẹp do Ngô Thì Sỹ miêu tả trong bài thơ “Trấn Doanh bát cảnh” được lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Ngày nay, chùa Tiên không chỉ là di tích thắng cảnh thu hút du khách thăm quan mà còn là điểm sinh hoạt tín ngưỡng, nơi thờ tổ tiên, thánh phật, các vị có công với đất nước. Trong chùa có cung tam bảo, hệ thống tương phật bài trí khá công phu, có cung thờ thánh Mẫu, cung đức thánh Trần,…

SCR.VN Gợi Ý Bài 🌵Thuyết Minh Về Bình Thuận ❤️️ 16 Bài Giới Thiệu Bình Thuận

Thuyết Minh Về Nhà Thành Mạc Lạng Sơn là một trong những thông tin hay để các em có thêm nhiều kiến thức lịch sử hơn.

Thành Nhà Mạc Lạng Sơn – là di tích lịch sử khu căn cứ quân sự kiên cố phản ánh lại kiến trúc phản ánh thời kỳ phong kiến, chống lại xâm lược của ông cha ta vào thế kỷ 17 -18. Nơi đây không chỉ ghi lại những dấu ấn lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta mà còn sở hữu khung cảnh thiên nhiên hữu tình, ngắm nhìn thành phố Lạng Sơn từ trên cao tuyệt đẹp.

Thành nhà Mạc Lạng Sơn có địa chỉ tại phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn – đây là di tích lịch sử còn sót lại với nét hoang sơ, cổ kính phản ánh kiến trúc quân sự thời phong kiến. Nằm ở vị thế khá quan trọng với thế 3 năm dựa lưng vào 3 ngọn núi Tô Thị, Lô Cốt, Mạc Kính Cung cao tới hàng chục mét. Từng bức tường thành được xây kiên cố, lên cao vây kín một khoảng đất trống bằng phẳng hàng nghìn m2.

Thành nhà Mạc Lạng Sơn có địa thế hiểm trở cùng những ngọn núi cao hùng vĩ, điểm căn cứ quân sự quan trọng chắn ngang con đường độc đáo từ Ải Bắc xuống phía Nam. Vì vậy để di chuyển được tới đây bạn cần leo lên một ngọn đồi với hơn 100 bậc tam cấp dọc theo sườn núi. Bạn sẽ phải trầm trồ ngạc nhiên với khung cảnh từ phía xa nhìn lại, tòa thành hiện lên hào hùng bất khuất cùng những ngọn núi cao kỳ vĩ.

Đến với thành nhà Mạc Lạng Sơn, khi di chuyển từ chân đồi lên tới cổng thành, bạn sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của những dãy núi non trùng điệp hiện ra trước mắt. Không khí trong lành, mát mẻ, tiếng chim hót rảnh rang khiến bạn cảm thấy nhẹ bâng, tâm hồn được thư giãn, xóa tan mọi ưu phiền.

Đứng từ trên cao từ những tường thành kiên cố theo năm tháng đưa mắt ra xa, nhìn thành phố Lạng Sơn hiện ra với một vẻ đẹp tự nhiên tuyệt đẹp. Phía dưới thung lũng là những ngôi nhà cao tầng tăm tắp, bốn bể được vây quanh bởi những dãy núi hùng vĩ, tạo nên một khung cảnh nên thơ trữ tình.

Lịch sử hào hùng đã qua đi, tới nay di tích thành nhà Mạc Lạng Sơn chỉ còn khoảng 300m 2 đoạn tường được xây dựng kiên cố bằng những khối đá lớn giữa núi. Bức tường phía Tây Bắc có chiều 65m, chiều cao 4m bao gồm cửa công, lỗ châu mai và cửa ra vào được xây bằng đá hộc miết mạch có độ vững chắc tuyệt đối.

Bức tường phía Đông cũng có kiến trúc tương tự với chiều dài 75m, 15 lỗ châu mai và có tới 7 cửa công được làm bằng những khối đá hộc miết mạch cực lớn gắn liền bằng mật mía và mật ong. Khi tới thành nhà Mạc Lạng Sơn bạn sẽ hiểu sâu hơn về công trình phản ánh kiến trúc của nền phong kiến Việt Nam vào thế kỷ 16-17.

Đọc Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Sapa ❤️️17 Bài Văn Giới Thiệu Về Sapa Hay

Thuyết Minh Về Đặc Sản Lạng Sơn Ấn Tượng, cùng khám phá những món ăn đặc sản của núi rừng Đông Bắc qua bài viết sau đây.

Đến với xứ Lạng, du khách không chỉ được ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, mà còn được thưởng thức các đặc sản Lạng Sơn ngon nức tiếng, là những món ăn ngon mang đậm hương vị của núi rừng Đông Bắc.

Phở chua là món ngon Lạng Sơn được nhiều du khách yêu thích, có hương vị vô cùng hấp dẫn. Phở chua Lạng Sơn bao gồm 2 phần chính là phần khô và phần nước. Phần khô gồm bánh phở dẻo, dai, xá xíu, dưa chuột, lạc rang, khoai lang chiên, hành khô, các loại rau thơm; Phần nước gồm nước báng tỏi, dấm, đường. 2 phần được trộn đều cho hương vị thanh thanh, ngọt ngọt ăn mà không cảm thấy ngấy.

Bánh cuốn trứng là đặc sản ở thành phố Lạng Sơn, khác bánh cuốn ở các nơi khác ở phần nhân bánh và nước dùng, người làm sẽ đập một quả trứng vào giữa nồi hấp, đậy nắp đợi trứng chín mới dùng que tre lấy bánh lại và cho ra đĩa, rắc chút thịt băm thơm ngon lên trên.

Bánh áp chao đặc sản Lạng Sơn với phần nhân là thịt vịt, khi chấm ăn với nước mắm đu đủ pha giấm ớt cho hương vị độc đáo. Cắn miếng áp chao có thể cảm nhận được hương vị dẻo của bột nếp, vị ngọt hấp dẫn của thịt vịt.

Ẩm thực Lạng Sơn đa dạng, phong phú, trong đó phải kể đến món nem nướng Hữu Lũng, được làm từ thịt lợn và bì lợn thái nhỏ, đem trộn với thính và gói lại bằng lá chuối tươi. Sau khi thịt lên men thì được đem nướng trên bếp than cho hương vị thơm nồng khi nướng lên.

Đặc sản lợn quay Lạng Sơn và vịt quay Lạng Sơn đã trở thành thương hiệu ẩm thực nổi tiếng, mang hương vị đặc trưng riêng do được chế biến cùng lá mắc mật. Cắn miếng thịt sẽ cảm nhận được vị ngọt của thịt được tẩm ướp đậm đà, vị thơm của lá mắc mật.

Khâu nhục là món đặc sản Lạng Sơn ngày tết không thể thiếu, chế biến khá cầu kỳ với các nguyên liệu là thịt ba chỉ ướp kỹ các loại gia vị như húng lìu, ngũ vị hương, địa liền, mật ong, rượu… đem hấp cách thủy cùng khoai môn, lá tàu soi cho đến khi thịt chín, mềm nhừ.

Tham Khảo Bài ❤️️ Giới Thiệu Về Đà Lạt ❤️️ 20 Bài Văn Thuyết Minh Đà Lạt Hay Nhất

Thuyết Mình Về Món Lợn Quay Lạng Sơn , món ăn đặc sản Xứ Lạng níu chân nhiều du khách khi có dịp trải nghiệm nơi đây.

Lợn quay, một món ăn không có gì xa lạ với người Việt Nam chúng ta. Tuy nhiên, nhắc đến món lợn quay thì đầu tiên chúng ta phải nghĩ ngay tới đó là món lợn quay Lạng Sơn. Đây cũng được coi là món ăn truyền thống và mang nhiều nét đặc trưng của Xứ Lạng.

Để có món lợn quay thơm ngon phải trải qua rất nhiều công đoạn. Đầu tiên là chọn lợn. Lợn phải chọn những con có lông mượt, dày và dài và có trọng lượng từ 25 – 40kg. Chọn được lợn rồi là công đoạn chế biến và tẩm ướp gia vị. Nguyên liệu tẩm ướp chính gồm lá mắc mật tươi, quả mắc mật, đậu phụ nhự và tàu choong Đây là một loại tương đậu nành làm theo công thức của người Tày.

Ngay cả mật ong để đánh màu cũng phải là loại tốt, nếu không con lợn không thể lên màu đều và đẹp. Lợn quay Lạng Sơn được quay nguyên con, có màu vàng rộm. Khi ăn sẽ cảm thấy được vị ngọt của thịt, giòn của da lợn, đặc biệt là mùi thơm không thể lẫn vào đâu được của quả và lá mác mật.

Lợn quay Lạng Sơn được quay nguyên con. Tạo màu cho lợn quay là một trong những bước quan trọng nhất tạo nên độ bắt mặt cho món lợn quay Lạng Sơn. Để da của lợn quay nổi rộp thì người thợ cần dùng một cây kim dài, vừa quay vừa châm vào da, đồng thời phết mật ong và quay đều tay cho đến khi con lợn xuất hiện màu nâu cánh gián.

Trước đây, người Tày thường quay lợn trực tiếp trên ngọn lửa than củi núi đá mất khoảng 2-3 tiếng. Hiện nay, bà con cải tiến bằng lò quay chạy tự động nhanh hơn rất nhiều, đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của người dân. Mỗi một con lợn ngon được ra lò phụ thuộc vào tay nghề của người thợ cũng như bí quyết quay của từng gia đình.

Thịt lợn quay Lạng Sơn không chỉ là món đặc sản của riêng nơi đây. Món ăn này ngày càng nhiều người biết đến và xuất hiện ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, được nhiều người yêu thích và nhớ đến như một nét đẹp gắn với phong tục tập quán của người dân Xứ Lạng. Dù đi đâu, khi đặt chân đến Lạng Sơn, thịt lợn quay là món ăn du khách không thể bỏ qua.

Đọc Thêm Bài 💦 Thuyết Minh Về Hà Giang ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hà Giang Hay

Tham khảo bài văn hay Thuyết Minh Về Món Vịt Quay Lạng Sơn , một món ăn đặc sản nổi tiếng tại nơi đây khiến nhiều thực khách quên lối về.

Lạng Sơn được nhiều du khách biết đến với những địa danh nổi tiếng như: chùa Tam Thanh, Nhị Thanh, hòn Vọng Phu, phố Kỳ Lừa… Không những thế, Lạng sơn còn là địa điểm hấp dẫn bằng các món ẩm thực rất nổi tiếng như lợn quay, măng ớt, bánh ngải… và đặc biệt nhất là món đặc sản vịt quay Lạng Sơn.

Nếu như ở Hà Nội có đặc sản vịt cỏ Vân Đình dường như đã trở thành một thương hiệu lớn, thì Lạng Sơn có đặc sản vịt Thất Khê, thịt dày mềm, xương nhỏ. Vịt được chọn để quay vừa lớn tới, không già quá mà cũng không quá non. Người dân nơi đây có những bí quyết đặc trưng và truyền thống mà không phải món vịt quay ở nơi nào cũng có được.

Ngay từ khi lựa chọn, vịt phải đúng tầm và ưng ý, người ta vặt lông vịt một cách chớp nhoáng tránh ngâm lâu trong nước sẽ bị nhạt thịt và bị tanh. Họ lấy hết ruột gan vịt rồi thổi cho da dẻ con vịt căng phồng lên bằng cách lấy ống của lá đu đủ thổi rửa qua rượu tránh vịt có mùi tanh. Vịt được để ráo nước rồi nhúng nhanh vào nồi nước sôi sùng sục cho thịt se lại.

Sau đó phết ra ngoài và cả trong bụng vịt một loại nước sền sệt, trong đó bao gồm mật ong, ít xì dầu, đường mạch nha… tạo nên một màu nước quánh, nâu vàng.Nhưng chọn vịt chỉ mới là khâu đầu. Còn để thịt quay ngon, nằm ở khâu tẩm ướp.

Người dân địa phương dùng nhiều loại lá rừng có vị thơm, trong đó không thể thiếu lá mắc mật, quả mắc mật, mật ong, hắc xì dầu, sả, ớt, tiêu đen, dầu đậu nành, gừng, hạt nêm, chanh hoặc giấm, tỏi, mạch nha. Nghe thì có vẻ rất đơn giản, nhưng người dân nơi đây có những bí quyết đặc trưng và truyền thống mà không phải món vịt quay ở nơi nào cũng có được.

Bụng vịt được nhồi nhiều thứ gia vị hái được trong rừng, trong đó đặc sắc nhất là lá mắc mật rồi khâu lại, để khoảng 2 đến 3 tiếng để thịt vịt ngấm gia vị rồi mang nướng nhẹ trên lò than hồng cho đến khi màu da vịt chuyển từ vàng sang nâu sẫm mới cho vào chảo mỡ đã phi xả, ớt, gừng… hay dầu lạc nóng già đều tay lật con vịt qua lại.

Đến với Lạng Sơn, nhâm nhi miếng vịt quay bên bình rượu Bảo Sơn – cũng là một đặc sản không thể bỏ qua của mảnh đất xứ Lạng, bạn sẽ cảm nhận trọn vẹn hương vị thơm ngon đậm đà có một không hai của món đặc sản này. Đơn giản, dân dã, bình dị mà vương vấn mãi trong lòng thực khách.Khi ăn vịt quay, dân địa phương không bao giờ dùng nước mắm hay xì dầu.

Họ có một loại nước chấm tự mình pha chế. Đó là thứ nước sóng sánh lấy từ bụng con vịt đã được quay chín cùng với một vài vị độc chiêu “bí truyền”. Vịt được chặt ra từng miếng, hoặc dùng tay mà xé, béo mà không ngấy, ngọt mặn và có chút gì như nhân nhẩn chát, đắng của lá rừng.

Chia Sẻ Bài 💦Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Ở Gia Lai ❤️️ 14 Bài Hay

Thuyết Minh Về Món Khâu Nhục Lạng Sơn – món ăn làm nên nét đặc trưng của ẩm thực tại vùng đất Đông Bắc này.

Khâu nhục là món ăn không thể thiếu ở các dịp lễ Tết, nhà mới, đám cưới… của người Nùng, Tày ở Lạng Sơn. Khâu Nhục là một món ăn mà thường được thấy trong những dịp lễ Tết hoặc những sự kiện được diễn ra hàng ngày như đám cưới đám hỏi hoặc ma chay của người dân tộc vùng cao được làm từ thịt lợn nhưng lại mang cho bạn một hương vị thật khác. Một số nơi còn gọi là nằm khâu.

Đây là món gia truyền, truyền thống của người Nùng, Tày nên ai cũng biết nấu.

Khâu nhục là tiếng hoa đánh vần lại chữ viết tiếng Việt, phát âm tiếng Hoa là khâu nhục. “Khâu” có nghĩa- hấp đến mềm gục, “Nhục” có nghĩa- thịt, nếu dịch đúng nghĩa là thịt gục, hoặc thịt hấp gục. Tùy từng địa phương, món ăn này còn có các tên gọi khác như: “khau nhục”, “khổ nhục”, “nằm khau”. Ngoài ra, tên gọi của chúng còn được bắt nguồn từ chính cách thức xếp trên đĩa và hình dáng giống như một mỏm đồi nhỏ, đang vươn lên, nên người dân tộc Nùng gọi là “khâu” tức đồi.

Đây là món gần giống như thịt kho nhưng được hấp cách thủy với nhiều loại gia vị, ướp càng lâu càng ngon. Để có món khâu nhục chuẩn, người ta phải nấu tới nửa ngày cho miếng thịt mềm, sao cho khi ăn như tan ra trong miệng. Món này có nguồn gốc từ người Hoa làm, xuất hiện ở hầu hết các vùng núi phía Bắc.

Nguyên liệu để làm món khâu nhục gồm có: thịt lợn ba chỉ, húng lìu, ngũ vị hương, địa liền, tỏi, ớt, rượu, dấm, bột ngọt, hạt tiêu…Khi chế biến món này, phải dùng thịt lợn ba chỉ tươi ngon, cắt thành miếng vuông, rửa sạch cho vào nồi luộc kỹ. Thịt chín vớt ra để nguội. Cạo sạch phần bì của miếng thịt, dùng vật nhọn châm vào bì thật kỹ, khi thấy bì chảy mỡ ra thì lau sạch, lấy rượu hoặc dấm bôi vào lớp da bì đó cho thấm đều. Tiếp theo cho thịt vào chảo mỡ nóng chao (rán) sao cho vàng đều mới vớt ra.

Miếng thịt vừa vớt ra khỏi chảo được ngâm ngay vào nước lạnh, cho vào nồi luộc cho thịt săn lại, vớt ra để nguội. Mỗi miếng cắt khoảng 2cm rồi tẩm các loại gia vị cho thật đều. Sau đó xếp các miếng thịt vào bát tô đặt phần bì xuống dưới đáy bát, phần thịt quay lên phía trên để tiện cho việc rắc gia vị được ngấm đều rồi đưa vào nồi hấp cách thuỷ một lần nữa đến khi thịt mềm nhũn thì bỏ ra ăn.

Bên dưới bát khâu nhục bày các loại gia vị như: rau xanh, mộc nhĩ, ớt. Khi chín khau nhục có màu vàng đều, hấp dẫn, mùi thơm đặc trưng lôi cuốn người ăn và ăn khi còn nóng.

Khâu nhục xuất hiện trong bữa cơm đãi khách và không thể thiếu trong mâm cỗ cưới, giỗ chạp, mừng thọ… của người Sán Dìu. Thế nên mới có chuyện, người con gái, con trai Sán Dìu ở đất Sơn Dương, dù đi lấy chồng đất khách, tiệc cưới có tổ chức trong những nhà hàng sang trọng, người nhà vẫn phải chuẩn bị cho đủ số bát khâu nhục, tương ứng với số mâm cỗ nếu không muốn người làng chê cười.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Tham khảo bài văn Giới Thiệu Về Lạng Sơn Bằng Tiếng Anh giúp các em nâng cao khả năng ngoại ngữ và kĩ năng viết của mình.

Lang Son is a northern province of Vietnam which borders Cao Bang Province to the North, Sung Ta Province (China) to the northeast, Bac Giang Province to the south, Quang Ninh Province to the east, Bac Kan Province to the West and Thai Nguyen Province to the southwest. With two international border gates, Dong Dang and Huu Nghi, Lang Son holds an important position in Vietnam economy. In addition to the two gates, the province also possesses 7 markets along its border with China.

In general, about 80% of the province’s area is mountains. The most popular terrain is low mountains and hills, which usually have an average height of 252m above the sea level. The lowest point in the province is 20m high; it is in the area of Huu Lung district. In contrast, with a height of 1541m, Mau Son Mountain is considered the highest peak in Lang Son.

The most mountainous part of the province is Mau Son, which is 30km away to the East of Lang Son City. Mau Son is famous for its spectacular terrain made of many mountains of various sizes. Sometimes, you can even find snow there, a quite rare phenomena in a tropical country like Vietnam.

The seasonal climate of Lang Son is similar to that of other provinces in northern Vietnam. In different seasons, the temperature is distributed pretty disproportionally because of the complex terrain. However, the annual average temperature is still about 17-22oC and the annual average precipitation is 1200-1600mm. The annual average humidity is from 80 to 85%.

Nowadays, Lang Son is considered one of the most potential provinces of Vietnam in term of agriculture development, natural resources, trading, and especially tourism.

Tạm dịch

Lạng Sơn là một tỉnh phía bắc của Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía đông bắc giáp tỉnh Sùng Tả (Trung Quốc), phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên phía Tây Nam. Với hai cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng và Hữu Nghị, Lạng Sơn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ngoài hai cửa khẩu, tỉnh còn có 7 chợ dọc biên giới với Trung Quốc.

Nhìn chung, khoảng 80% diện tích của tỉnh là núi. Địa hình phổ biến nhất là đồi núi thấp, thường có độ cao trung bình 252m so với mực nước biển. Điểm thấp nhất tỉnh cao 20m; nó thuộc địa bàn huyện Hữu Lũng. Ngược lại, với độ cao 1541m, núi Mẫu Sơn được coi là đỉnh núi cao nhất ở Lạng Sơn.

Vùng núi cao nhất của tỉnh là Mẫu Sơn, cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía Đông. Mẫu Sơn nổi tiếng với địa hình kỳ vĩ được tạo nên từ nhiều ngọn núi lớn nhỏ khác nhau. Đôi khi, bạn còn có thể tìm thấy tuyết ở đó, một hiện tượng khá hiếm gặp ở một đất nước nhiệt đới như Việt Nam.

Khí hậu theo mùa của Lạng Sơn tương tự như các tỉnh khác ở miền Bắc Việt Nam. Trong các mùa khác nhau, nhiệt độ phân bố khá không cân đối do địa hình phức tạp. Tuy nhiên, nhiệt độ trung bình hàng năm vẫn khoảng 17-22oC và lượng mưa trung bình hàng năm là 1200-1600mm. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80 – 85%.

Ngày nay, Lạng Sơn được đánh giá là một trong những tỉnh giàu tiềm năng nhất của Việt Nam về phát triển nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, giao thương và đặc biệt là du lịch.

Chia sẻ cơ hội 💧 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 💧 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay Nhất ✅ Giới Thiệu Tuyển Tập Văn Đặc Sắc Với Cách Viết Sinh Động Và Giàu Hình Ảnh. 

Chia sẻ đến bạn đọc mẫu Dàn Ý Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 chi tiết sau đây để triển khai bài văn logic nhất.

Mở bài:

Giới thiệu và nêu giá trị của sách nói chung với cuộc sống con người.

Giới thiệu về SGK và tình cảm của em với cuốn SGK Ngữ văn 8, tập một.

Thân bài:

Kết bài: Khẳng định giá trị, ý nghĩa lớn lao của quyển sách đối với học trò.

Xem Thêm Bài 🌹 Tả Quyển Sách Mà Em Yêu Thích ❤️️15 Bài Hay Nhất

Bài Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 Điểm Cao giúp các em có thêm nhiều kiến thức hữu ích về quyển sách này.

Trong cuộc đời của mỗi người, hẳn ai cũng từng biết qua một vài quyển sách, càng bổ ích hơn khi được đọc hoặc nghiên cứu về chúng. Hôm nay, tui xin giới thiệu với các bạn quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một mà tôi đang được học ở trường. Đây là một quyển sách chứa đựng thật nhiều kiến thức về các phần như: Văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn. Tôi sẽ trình bày đôi nét về quyển sách này để các bạn biết rõ hơn về nó.

Quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo, được tái bản lần thứ năm. Để có được một quyển sách với nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Nào là phải chọn lọc rồi biên soạn lại, trình bày bìa và minh họa, chọn size chữ, chọn bản in,…Nhân đây, tôi xin nhắc đến một số người đã góp công trong việc phát hành quyển sách này. Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục và đào tạo.

Về phần nội dung do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn), Lê A, Diệp Quang Ban, Hồng Dân,… Chịu trách nhiệm xuất bản do chủ tịch HĐQT kiêm tổng Tổng Giám đốc Ngô Trần Ái và phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nguyễn Quý Thao.

Biên tập lần đầu Kim Chung, Ngọc Khanh, Hiền Trang. Biên tập tái bản Phạm Kim Chung. Trình bày bìa và minh họa là Trần Tiểu Lâm. Nguyễn Thanh Thúy chịu trách nhiệm biên tập kĩ thuật. Sửa bản in do Phòng sửa bản in (NXB Giáo dục). Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục. Sách có mã số 2H811T9 và số đăng ký KHXB: 01-2009/CXB/219 – 1718/GD, được in 70 000 cuốn tại Công ty TNHH MTV XSKT & Dịch vụ In Đà Nẵng. In xong nộp lưu chiểu tháng 02 năm 2009.

Cầm quyển sách trên tay, ta sẽ dễ dàng đọc được dòng chữ “Ngữ Văn 8 – Tập một” in thật to ở bìa sách. Bìa thuộc dạng bìa cứng , có bề mặt nhẵn, được trang trí với màu cam thật đẹp mắt, trên cùng, ở gốc trái có in dòng chữ màu đen: “Bộ Giáo dục và đào tạo” khoảng 2-3 milimet.

Bên dưới dòng chữ ấy là tên sách:”Ngữ Văn” được tô màu xanh dương làm nổi bật trên nền bìa cam có phông chữ khoảng 28 – 30 milimet cùng với số “8” màu trắng có size từ 30 – 35 milimet được in thật to bên dưới, phía bên phải và bên trái số “8” ấy có đế hàng chữ “Tập một”. Thân bìa được trang trí thêm hoa, lá vàng, xanh để tăng thêm phần sinh động.

Phía dưới cùng là hàng chữ “Nhà xuất bản Giáo dục” với hiệu logo màu đỏ. Bìa sách cuối có nền màu trắng, hai bên trái, phải ở trên cùng lần lượt in hình “Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế. Bên dưới là tên các loại sách thuộc các môn học khác nằm trong chương trình lớp 8 được in với màu đen đặc sắc trên một khung nền màu xanh như: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai),…, Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…)

Chúng ta đã được rèn luyện, củng cố nâng cao một số kĩ năng trong quá trình tạo lập văn bản như: xây dựng bố cục, xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn. Chương trình Tập làm văn 8 sẽ được nâng cấp trên một vài phương diện.

Sự kết hợp phương thức biểu đạt tự sự, nghị luận mà chúng ta đã được học qua với phương thức biểu đạt khác như miêu tả, biểu cảm sẽ tạo nhiều điều kiện để ta đọc – hiểu văn bản làm cơ sở để đi vào nghiên cứu phương thức biểu đạt thuyết minh. Đây là kiểu văn bản lần đầu được dạy trong nhà trường ở Việt Nam, tuy không xuất hiện nhiều trong lĩnh vực văn chương nhưng lại hết sức thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống.

Tôi xin sơ lược về một số bài và công dụng của nó. Ở các bài: Bố cục của văn bản, Xây dựng đoạn văn trong văn bản, Liên kết các đoạn văn trong văn bản nhằm giúp ta hiểu thật rành rẽ hơn về kết cấu, cấu tạo của đoạn văn, bài văn và cách sử dụng phương tiện liên kết để có sự mạch lạc, rõ ràng giữa các đoạn văn.

Còn trong ba bài: Tìm hiểu về văn thuyết minh, Phương pháp thuyết minh, Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh được sắp xếp trong chương trình giảng dạy theo độ khó tăng dần, nhằm thúc đẩy ta làm quen và thích nghi nhanh với phương thức biểu đạt mới, luyện tập cho ta có thể mạnh dạng và chủ động hơn trong mọi đề văn thuyết minh dưới hình thức nói hoặc viết.

Như vậy, qua đó ta cũng đã thấy được vô vàn kiến thức bổ ích cần phải tìm hiểu sâu hơn trong quyển sách Ngữ Văn 8 – tập một này. Nó giúp ta tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ từ đó mới thấy được chân giá trị của nghệ thuật, đối với người học văn, nó còn làm cho tâm hồn ta bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn để giảm bớt đi những áp lực nặng nề của cuộc sống.

Hơn nữa, sách còn mang ý nghĩa giáo dục to lớn, tôi luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. “Có đam mê đọc sách mới thấy được những giá trị tiềm tàng của sách”.

Với tôi, sách là người bạn thân thiết, mãi đồng hành cùng tôi trên ghế nhà trường. Và tôi luôn nâng niu, trân trọng từng trang sách, từng bài học, từng lời văn,…vì tôi biết sách luôn kề vai sát cánh bên tôi, bồng bế tôi qua những nẻo đường khúc khuỷu để tiến về đỉnh vinh quang của học vấn.

“Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ” Thật vậy, câu nói này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ và nó vẫn còn mang ý nghĩa tồn tại trong mọi thời đại. Ngọn đèn tri thức chính là sách và ngọn đèn ấy chẳng bao giờ bị dập tắt cho dù nó có đứng trước những thay đổi thất thường của thời tiết.

Ôi ! Quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một chứa đựng biết bao nhiêu là kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Sách như ngọn đèn sáng soi bước đường tôi đi và sách cũng như chiếc chìa khóa vạn năng mở toang các cánh cửa trên con đường học vấn tôi đang lê bước và một sự đóng góp lớn lao trong việc “Trăm năm trồng người”.

Đó chính là công sức to lớn của những thầy, cô giáo luôn tận tụy, hết mình vì học sinh, luôn tìm tòi những cách giảng thật hay, thật dễ hiểu để học sinh chúng tôi có thể tiếp thu dễ dàng những kiến thức bổ ích mà thấy, cô đang truyền đạt. Như vậy, sách cũng như những người thầy, người cô lái đò đưa chúng tôi sang sông cập bến của tương lai tươi sáng.

Chia Sẻ Bài ❤️️ Thuyết Minh Về Đồ Dùng Học Tập ❤️️16 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Đặc Sắc là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em ôn tập cho kì thi thật tốt.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8 hiện nay được các nhà khoa học về giáo dục biên soạn theo hướng tích hợp về kiến thức nhằm mục đích vừa cung cấp cho học sinh những kiến thức kỹ năng mang tính phổ thông, cơ bản mà hiện đại, vừa tránh sự trùng lặp, chồng chéo không cần thiết.

Hai cuốn Ngữ vãn tập 1, 2 tổng hợp toàn bộ kiên thức trong 34 bài học. Nhìn chung mỗi bài học được kết cấu thành ba phần lớn.

Phần Văn bản: Ở phần này, các nhà khoa học đã tuyển chọn các tác phẩm văn học Việt Nam, văn học nước ngoài để biên soạn, giới thiệu cho học sinh xen lẫn một lượng không nhỏ các văn bản có tính nhật dụng – một sự cải cách cần thiết cho tư duy của học sinh. Các văn bản văn học được biên soạn theo các mốc thời gian (có kèm việc đan xen thể loại).

Văn bản được trích trọn vẹn hoặc một phần có kèm chú thích giới thiệu, về tác giả và phong cách cùng một phần đọc hiểu, chủ yếu để giúp học sinh tự chuẩn bị bài trước ở nhà. Các văn bản nhật dụng phong phú và đa dạng cũng được biênisoạn theo cách ở trên. Tuy nhiên, trong 34 bài học, có bài có tới hai văn bản nhưng có bài thì không có văn bản nào. Cũng có bài vãn bản được trích ra nhưng để học sinh tự học mà không được giảng.

Phần Tiếng Việt: Phần này nằm ngay sau phần đọc hiểu hay phần luyện tập của các văn bản. Nội dung của phần tiếng Việt cung cấp những kiến thức cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… và hầu hết đều được trình bày theo hướng từ ví dụ đến ghi nhớ.

Phần Tập làm văn: Là phần quan trọng thứ ba tạo nên bố cục hoàn chỉnh cho mỗi bài học. Trong phần này, học sinh được học lí thuyết và thực hành về các kiểu bài văn như: văn tự sự, văn nghị luận… Cũng ở phần này, học sinh được tham khảo những bài mẫu và có sẵn trước các đề văn đế thực hành cho từng kiểu loại bài.

Giới Thiệu Bài 💦 Thuyết Minh Về Đồ Vật, Đồ Dùng Sinh Hoạt ❤️️ 15 Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Quyển Sách Ngữ Văn 8 Chọn Lọc từ chúng tôi và chia sẻ đến các bạn đọc sau đây.

Trên chặng đường học tập, ngữ văn là môn học không thể thiếu đối với chúng ta. Nó giúp ta phát triển khả năng đọc viết, giao tiếp một cách toàn diện. Và một phần không thể thiếu khi học Ngữ văn chính là Sách giáo khoa (SGK). Nội dung chương trình trong sách giáo khoa các lớp như một mắt xích. Mỗi năm gắn kết chặt chẽ với nhau. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 1 là phần rất quan trọng trong quá trình học Ngữ văn lớp 8.

Quyển SGK Ngữ Văn 8, tập 1 do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sách in xong và nộp lưu chiểu năm 2009. Lần tái bản gần nhất là in cho năm học này. Sách giáo khoa Ngữ Văn 8 – tập 1 là kết quả nghiên cứu của tập thể các giáo sư, tiến sĩ hàng đầu Việt Nam. Công việc được tiến hành dưới sự chỉ đạo và giám sát, kiểm tra của Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam.

Về phần biên soạn nội dung do Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên. Phần Văn bản do Nguyễn Hoành Khung chủ biên. Phần Tiếng Việt do Nguyễn Minh Thuyết làm chủ biên. Phần Tập làm văn do Trần Đình Sử làm chủ biên. Về phần bìa sách do Trần Tiểu Lâm thiết kế bìa và trình bày minh họa nội dung. Ban biên tập nội dung gồm Kim Chung, Ngọc Khang, Hiền Trang.

Chịu trách nhiệm xuất bản là tổng giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Ngô Trần Ái và phó tổng giám đốc Nguyễn Quý Thao. Sách được biên soạn và ấn hành từ năm 2009. Nhưng hằng năm quyển sách được chỉnh sửa và tái bản với số lượng lớn để phục vụ nhu cầu học tập và giảng dạy của học sinh và giáo viên trên cả nước.

Cũng như các sách giáo khoa khác, về căn bản, Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 – tập 1 bao gồm bìa trước, bìa sau và phần nội dung bên trong. Bìa trước màu nền hồng phấn, nổi bật lên dòng chữ: Ngữ Văn 8 – tập 1 được tô màu xanh dương. Đầu trang bìa là dòng chữ in hoa Bộ giáo dục và Đào tạo. Từ phía góc dưới đến giữa quyển sách là khóm hoa vàng lá màu xanh dương. Với họa tiết đơn giản, gần gũi, tạo nên nét hài hòa thật bắt mắt. Cuối bìa sách là lô gô và tên hiệu của nhà xuất bản.

Bìa sau có nền màu trắng nhạt. Bên dưới là tên các loại sách thuộc các môn học khác nằm trong chương trình lớp 8. Khung chữ được in với màu đen đặc sắc trên một khung nền màu hồng phấn. Dưới cùng, nằm bên gốc phải là tem đảm bảo và giá bán. Ở góc bên trái là mã vạch sản phẩm. Giá bán có thể thay đổ theo từng năm. Thường thì giá bán Sách giáo khoa đã được nhà nước hỗ trợ nên rất rẻ. Toàn bộ quyển sách không tính trang bìa là 176 trang. Bìa sách in trên giấy mền phủ mờ theo khổ giấy là 17 x 24 cm.

Đối với một quyển sách, nội dung bên trong là quan trọng nhất. SGK Ngữ văn lớp 8 – tập 1 có cấu tạo ba phần: Văn bản, Tiếng Việt và làm văn. Ngoài ra còn có phần giới thiệu chương trình và phần lí luận văn học. Phần văn bản gồm các văn bản văn học Việt nam, văn bản văn học nước ngoài, văn bản Nhật dụng.

Văn bản văn học Việt Nam gồm truyện ngắn Tôi đi học (Thanh Tịnh); đoạn trích Trong lòng mẹ (trích “Những ngày thơ ấu” – Nguyên Hồng); truyện ngắn Lão Hạc (trích “Lão Hạc” – Nam Cao); đoạn trích Tức nước vỡ bờ (trích “Tắt đèn” – Ngô Tất Tố); bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (Phan Bội Châu) (Đập đá ở Côn Lôn (Phan Chu Trinh); bài thơ Muốn làm thằng cuội (Tản Đà); bài thơ Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải).

Các văn bản văn học nước ngoài cũng được giới thiệu với một vài tác giả nổi bật của thế giới như truyện ngắn Cô bé bán diêm (Andersen); tiểu thuyết phiêu lưu Đánh nhau với cối xay gió ( trích Đôn-ki-hô-tê – Xecvantec); truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng (O.Henry); truyện ngắn Hai cây phong (trích “Người thầy đầu tiên” – Ai-ma-tốp). Các văn bản văn học là những tác phẩm văn học xuất sắc của Việt Nam và thế giới. Các văn bản văn học Việt Nam là những sáng tác trong giai đoạn trước 1945.

Phần văn bản đảm nhận nhiệm vụ bồi dưỡng và giáo dục tình yêu con người, tình yêu cuộc sống, biết rung động và cảm thông trước những số phận bất hạnh, đáng thương trong cuộc đời. Đồng thời cũng tố cáo những bất công, áp bức trong xã hội, là tiếng thét đời quyền sống, khát vọng sống lương thiện, hạnh phúc của con người.

Phần văn bản nhật dụng với những bài viết đề cập đến các vấn đề nóng bỏng, cấp thiết của thế giới như bài viết Thông tin về ngày trái đất năm 2000; Ôn dịch thuốc lá; Bài toán dân số. Đây là ba vấn đề mà thế giới đang đối mặt với những khó khăn vô cùng to lớn. Ở phần Tiếng Việt, học sinh sẽ được mở mang thêm nhiều kiến thức với những bài học vô cùng bổ ích. Toàn bộ chương trình tiếng việt được biên soạn phù hợp với cấp độ nhận thức của học sinh.

Các bài học về từ ngữ được giới thiệu khá đầy đủ như Cấp độ khái quát của từ ngữ; Trường từ vựng, Từ tượng hình – Từ tượng thanh; Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội; Trợ từ – Thán từ, Tình thái từ. Các phép tu từ tiếp tục chương trình ở lớp 7 như phép Nói quá; phép Nói giảm – Nói tránh.

Về ngữ pháp, học sinh được học các bài về Câu ghép; Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm; Dấu ngoặc kép. Phần Tiếng Việt đảm nhận vai trò củng cố và nâng cao kĩ năng sử dụng từ, kết cấu câu và kết cấu văn bản. Một phần khác giúp các em nhận diện loại từ, giúp các học sinh vận dụng hiệu quả vào việc diễn đạt trong các bài tập làm văn.

Tiếp tục chương trình tập làm văn ở lớp 7, chương trình tập làm văn lớp 8 củng cố và nâng cao kĩ năng viết bài văn miêu tả, bài tập làm văn kể chuyện có yếu tố biểu cảm tạo cơ sở để làm bài văn thuyết minh về đồ vật. Lý thuyết tập làm văn tập trung vào các nội dung như xây dựng bố cục bài văn, xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn,…

Phần này giúp học sinh biết cách viết đoạn văn và liên kết chúng thành một bài văn hoàn chỉnh. Ngoài ra, kiểu bài văn nghị luận về một đạo lí tư tưởng và nghị luận về các hiện tượng trong cuộc sống cũng tiếp tục được rèn luyện. Chủ đề tập trung vào các vấn đề nóng bỏng đang xảy ra trong cuộc sống nhằm giúp học sinh biết quan sát và có cái nhìn thực tế, biết nhận xét, phán đoán, bàn luận và đưa ra những hành động thiết thực, hữu ích.

Trước hết, SGK Ngữ Văn lớp 8 – tập 1 là một công cụ học tập không thể thiếu của học sinh. Đây cũng là một công cụ giảng dạy của giáo viên trong học kì 1 của mỗi năm học. Thông qua quyển sách giáo khoa, giáo viên và học trò gắn kết nhau qua mỗi bài học thực sự ý nghĩa và hữu ích, từng bước nâng cao năng lực cảm thụ văn bản văn học, năng lực sử dụng ngôn ngữ thành thạo và chuẩn xác trong giao tiếp, năng lực viết một bài văn hoàn chỉnh.

Các văn bản văn học đều là những tác phẩm xuất sắc của nền văn học Việt Nam và các nước trên thế giới. Mỗi tác phẩm mở ra một chân trời rộng lớn về thế giới tâm hồn con người, cho ta phát hiện và trân trọng những giá trị ẩn sâu trong con người mà hằng ngày đã bị cuộc sống đời thường che lấp.

Hãy luôn trân trọng sách, quý trọng những gì sách đã mang lại trong đời sống của chúng ta. Dù các năm học sau không còn sử dụng quyển SGK này nữa nhưng những gì chúng ta tiếp thu được từ trong sách mãi mãi là hành trang quý giá theo ta đến suốt cuộc đời.

Xem Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Cái Quạt Giấy, Quạt Nan ❤️️ 15 Bài Văn Hay

Thuyết Minh Về Quyển Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 giúp các em có thể quan sát được cụ thể bố cục bài văn hoàn chỉnh.

Sách Ngữ Văn 8 tập 2 là quyển sách tiếp nối kiến thức lớp 6 và lớp 7 với hệ thống 17 bài, tương ứng với 17 tuần học. Mỗi bài lại có khoảng từ ba đến năm bài nhỏ cung cấp tri thức phong phú, hoàn thiện. Về nội dung, sách có cấu tạo ba phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và làm văn.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam, văn bản văn học nước ngoài. Văn bản văn học Việt Nam gồm các tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…).

Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh. Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Các tác phẩm này sẽ giúp học sinh hiểu được một phần về nền văn học nước ngoài.

Nội dung tiếp theo là phần Tiếng Việt. Nội dung tìm hiểu về các kiểu câu, hội thoại, hành động nói, cách lựa chọn trật tự từ trong câu… Những bài học nối tiếp từ lớp 7 có vai trò nâng cao khả năng về ngôn từ, ngữ pháp cho học sinh để vận dụng vào viết văn là giao tiếp hàng ngày. Đồng thời giúp các em hiểu thêm sự giàu đẹp của tiếng Việt và bồi đắp thêm tình yêu tiếng nói dân tộc.

Ở phần làm văn, học sinh được rèn luyện, củng cố một số kĩ năng về văn bản thuyết minh. Chương trình Tập làm văn 8 nâng cao hơn lớp 7 trên nhiều phương diện. Bên cạnh đó, phần làm văn còn tìm hiểu thêm về kỹ năng viết văn nghị luận.

Sách Ngữ văn lớp 8 có vai trò, tác dụng lớn trong quá trình học tập môn ngữ văn của học sinh. Sách giúp học sinh tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ để thấy được giá trị của nghệ thuật. Học văn, tình cảm được bồi đắp, tâm hồn bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn làm dịu đi những áp lực căng thẳng của cuộc sống.

Đặc biệt, sách có ý nghĩa giáo dục to lớn, rèn luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. Bồi đắp thêm những tình cảm, đức tính tốt đẹp như yêu thương và cảm thông với con người. Từ đó biết trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của mình hơn.

Đọc Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Laptop, Máy Tính Để Bàn ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay

Giới Thiệu Về Quyển Sách Ngữ Văn 8 Tập 1 Ấn Tượng, cùng đón đọc bài văn hay hữu ích sau đây.

Sách là người bạn đồng hành quen thuộc với con người. Trong suốt sự học cả đời của mỗi người, sách chính là trợ thủ đắc lực nhất. Một trong những cuốn sách đến với chúng ta đầu tiên khi còn đi học là sách giáo khoa. Nói về sách giáo khoa, bạn biết gì về sách Ngữ văn 8 tập 1 mà chúng mình vẫn học?

Sách Ngữ Văn 8 – Tập 1 là một trong bộ sách giáo khoa đưa vào giảng dạy chính cho môn Ngữ Văn lớp 8 trong học kỳ một. Nhà xuất bản Giáo dục phát hành sách dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần qua các năm để thay đổi phù hợp hơn với chương trình học. Sách ra đời có nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn công phu.

Đó là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy cô dạn dày kinh nghiệm trên cả nước. Nổi bật trong số đó phải kể đến Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn)…Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục đảm nhận.

Bao bọc lấy cả cuốn sách là bìa. Bìa trước nổi bật dòng chữ Ngữ Văn 8, tập 1 được tô màu xanh dương trên nền bìa hồng phấn. Với kích thước các chữ cái và màu sắc hài hòa, bìa sách dễ gây ấn tượng, phù hợp với tuổi khám phá mộng mơ của lứa tuổi học trò. Thân bìa được trang trí thêm hoa, lá vàng, xanh đầy sinh động. Đầu trang bìa là dòng chữ: Bộ giáo dục và Đào tạo. Bên phải phía cuối bìa là Logo Nhà xuất bản Giáo dục.

Bìa sau của sách có nền trắng đơn giản. Phía trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý của dân tộc và chất lượng sách.

Về nội dung, sách có cấu tạo 3 phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và làm văn. Ngoài ra còn có phần giới thiệu và phần lí luận văn học.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, văn bản văn học nước ngoài, văn bản nhật dụng. Văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 được lựa chọn các tác phẩm “Tôi đi học” (Thanh Tịnh), “Trong lòng mẹ” (trích “Những ngày thơ ấu” – Nguyên Hồng), “Lão Hạc” (trích “Lão Hạc”– Nam Cao), “Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt đèn” – Ngô Tất Tố), “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” (Phan Bội Châu), “Đập đá ở Côn Lôn” (Phan Chu Trinh), “Muốn làm thằng cuội” (Tản Đà), “Hai chữ nước nhà” (Trần Tuấn khải).

Văn học giai đoạn này ra đời giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 nên đó là những câu chuyện về đời sống của nhân dân Việt Nam, khát khao sống và chiến đấu. Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh.

Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: “Cô bé bán diêm” (Andersen), “Đánh nhau với cối xay gió” (trích Đôn-ki-hô-tê) – Xecvantec, “Chiếc lá cuối cùng” (Trích) – chúng tôi Ri, “Hai cây phong” (trích “Người thầy đầu tiên”) – Ai-ma-tốp. Đó là những câu chuyện được lựa chọn từ những tác phẩm văn học đồ sộ thế giới mang những màu sắc khác nhau của cuộc sống.

Qua nhân vật và câu chuyện của nhân vật, mỗi tác phẩm sẽ gửi gắm một thông điệp riêng, đem đến bài học nhân sinh sâu sắc. Học sinh thấu hiểu, cảm thông và biết trân trọng giá trị con người hơn. Từ đó nghe thấy tiếng nói chung của con người trên khắp thế giới về đấu tranh và bảo vệ quyền sống.

Phần văn bản nhật dụng đề cập đến những vấn đề gần gũi, nóng bỏng trong cuộc sống hiện nay như môi trường, tệ nạn xã hội, dân số. Bao gồm: Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá, Bài toán dân số. Các văn bản được đưa vào sách với mục đích nâng cao nhận thức cho học sinh về các vấn đề đang xảy ra xung quanh, định hướng hành động thực tiễn cho các em.

Nội dung tiếp theo là phần Tiếng Việt. Cấu trúc phần này gồm: Cấp độ khái quát của từ ngữ, Trường từ vựng, Từ tượng hình – Từ tượng thanh, Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội, Trợ từ – Thán từ, Tình thái từ, Chương trình địa phương (Phần Tiếng Việt), Nói quá, Nói giảm – Nói tránh, Câu ghép, Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm, Dấu ngoặc kép, Ôn luyện về dấu câu,…

Ở phần làm văn, học sinh được rèn luyện, củng cố một số kĩ năng tạo lập văn bản như: xây dựng bố cục, xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn. Chương trình Tập làm văn 8 nâng cao hơn lớp 7 trên nhiều phương diện. Các phương thức biểu đạt được học trước trở thành tiền đề cho phương thức biểu đạt thuyết minh – kỹ năng quan trọng của phần làm văn lớp 8. Thuyết minh không xuất hiện nhiều trong lĩnh vực văn chương nhưng lại hết sức thông dụng trong các lĩnh vực đời sống.

Chính vì thế, nó giúp học sinh hình thành và rèn luyện phương pháp thuyết minh một sự vật, hiện tượng trong cuộc sống theo tri thức khoa học chính xác và khách quan. Bên cạnh đó, phần làm văn còn nâng cao kỹ năng kể chuyện, nghị luận về các tác phẩm văn học. Các em sẽ có khả năng thể hiện tình cảm, cảm xúc tốt hơn qua những câu văn. Từ đó hình thành nền tảng ngôn ngữ và lý luận sắc bén Đây cho các bài văn nghị luận văn học khi lên lớp 9.

“Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ”. Sách Ngữ văn 8 tập 1 cũng là một ngọn đèn soi sáng trí tuệ chúng ta. Hãy bảo quản, giữ gìn sách khi sử dụng để có được hành trang cho chặng đường tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức.

SCR.VN Gợi Ý 🌵 Thuyết Minh Về Máy Tính Bỏ Túi ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Quyển Sách Ngữ Văn 8 Tập 1 Ngắn Hay được nhiều bàn đọc quan tâm và chia sẻ.

Hôm nay, mẹ đưa em đi mua sách để chuẩn bị cho năm học mới, đi dọc theo những dãy đựng giá sách trải dài theo diện tích của nhà sách, em nhìn thấy rất nhiều những cuốn sách hay và bổ ích. Mỗi cuốn sách lại có những cách trang trí và sắp xếp khác nhau, tạo cảm giác hứng thú cho người mua, người đọc.

Sắp vào năm học mới của lớp 8, em đi chọn những cuốn sách giáo khoa và những cuốn sách nâng cao cho cả năm học. Cuốn sách nào em cũng thích nhưng em thích nhất vẫn là cuốn sách giáo khoa ngữ văn lớp 8 tập 1. Văn là một trong những môn học mà em yêu thích nhất cho nên, cầm cuốn sách trên tay, em cảm thấy mình thật hạnh phúc.

Ngữ văn là một trong những môn học quan trọng nhất đối chúng ta. Đây là môn học sẽ đi theo chúng ta cho tới tận khi chúng ta đã trưởng thành, thậm chí là suốt cả cuộc đời. bởi học văn hóa, học từng lời ăn tiếng nói, học về những tác phẩm văn học đều là những kiến thức thường thức mà chúng ta luôn luôn cần tới và không bao giờ lạc hậu cả.

Hiểu càng nhiều thì những nguồn tri thức mà chúng ta có được cũng càng nhiều. và môn ngữ văn cũng có những tác dụng to lớn giúp chúng ta phát triển khả năng đọc viết và phát triển giao tiếp một cách hoàn thiện nhất.

Cuốn sách giáo khoa ngữ văn là một trong những cuốn sách do nhà Xuất bản giáo dục phát hành dưới sự cho phép của Bộ giáo dục và đào tạo. Nhìn từ bên ngoài, cuốn sách hiện lên nổi bật với dòng chữ” Ngữ văn lớp 8” tập 1 trên nền sách màu hồng nhạt. phía bên trên của cuốn sách là dòng chữ màu đen nho nhỏ “ Bộ giáo dục và đào tạo”.

Giữa cuốn sách có những bông hoa màu vàng, làm cho cuốn sách trở nên bắt mắt và đẹp hơn giữa rất nhiều những cuốn sách khác, giúp chúng ta dễ dàng phân biệt được hơn. Lật lại đằng sau. Ta thấy được những hình ảnh lô gô của nhà xuất bản giáo dục và đào tạo cùng với tem chống hàng giả trên thị trường.

Nội dung của cuốn sách cũng được sắp xếp một cách hết sức hợp lí. Phần đầu của mỗi bài học được tác giả trình bày những nội dung khái quát cũng như những kiến thức mục tiêu đặt ra mà chúng ta cần phải đạt được. tiếp sau đó là văn bản. thể loại văn bản lớp 8 tập 1 là văn bản tự sự và văn bản nhật dụng. văn bản tự sự chúng ta cũng đã được tìm hiểu từ những lớp dưới, nay sẽ được luyện tập thêm và ở mức độ nâng cao hơn, đòi hỏi chúng ta phải có sự học hỏi và tìm hiểu nhiều hơn về tác phẩm.

Văn bản nhật dụng thì được học ít hơn so với văn tự sự thế nhưng những tác phẩm nhật dụng cũng có tác dụng không nhỏ cho việc chúng ta sẽ áp dụng trong cuộc sống.

Phần tiếng việt của cuốn sách, chúng ta tiếp tục được học về những biện pháp tu từ cơ bản và được sử dụng nhiều như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,… cũng như việc học những từ tượng hình, từ tượng thanh, từ láy,… giúp ích cho việc chúng ta làm văn và hiểu ý nghĩa của những tác phẩm văn học một cách sâu sắc hơn. Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ được ôn tập thêm những kiến thức về từ loại, câu ghép, dấu câu,…Phần tập làm văn chúng ta được học dạng văn thuyết minh.

Đây là một dạng văn mới, em cũng rất mong chờ cho tới lúc được học để có thể áp dụng cho những bài văn của mình được thêm phần phong phú và chất lượng.

Tóm lại, em rất mong chờ cho tới lúc được học những kiến thức của cuốn sách. Học những kiến thức ấy, em không chỉ có những kiến thức mà còn tạo ra những kĩ năng mà bản thân của em sẽ được học và luyện tập. Đây là một trong những cuốn sách hay, nó giúp cho người học có được những kiến thức nền tảng một cách chắc chắn nhất.

Đọc Thêm Bài 🌿 Thuyết Minh Về Cây Bút Chì ❤️️15 Mẫu Về Cái Bút Chì Hay Nhất

Thuyết Minh Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 Tập 1 Chi Tiết với lối diễn đạt bài văn logic và sáng tạo.

Sách giáo khoa Ngữ Văn là 1 vật không thể thiếu của các học sinh, sinh viên từ tiểu học, trung học cho đến đại học. Nó là 1 kho tri thức to lớn góp 1 phần quan trọng trên con đường học vấn của chúng ta.

Quyển sách có dạng hình chữ nhật đứng, khá dày và to hơn cuốn tập bình thường 1 chút. Bìa sách đc làm bằng chất liệu trơn, bóng khá đẹp, phía trên cùng có dòng chữ”Ngữ Văn 8″ lớn, màu xanh dương. Ở giữa là hình 1 giàn hoa đang khoe sắc, dưới cùng có ghi tên của nhà sản xuất. Lật vào bên trong ta sẽ thấy rất nhiều tờ giấy đc xếp chồng lên nhau, phần gáy sách được đóng rất gọn gàng.

Quyển sách Ngữ Văn 8 tập 1 giúp cho chúng ta hiểu được nỗi khổ cực của người dân thời kì phong kiến trước Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 qua các văn bản như “Tức Nước Vỡ Bờ”, “Lão Hạc”. . . ; hiểu được cuộc đời bất hạnh của cô bé bán diêm qua 1 tác phẩm cùng tên của nhà văn An-đéc-xen; đoạn trích “Chiếc Lá Cuối Cùng” của O Hen-ri gợi cho chúng ta lòng cảm thương và sự đồng cảm với những họa sĩ chân chính nước Mỹ, dù nghèo nhưng luôn luôn có 1 tấm lòng yêu thương lẫn nhau, họ là những con người cao cả;. . .

Ngoài ra, sách còn chỉ cho chúng biết về công dụng cũng như cách sử dụng của dấu 2 chấm, dấu ngoặc đơn. . . để áp dụng vào tập làm văn. Vì sách đc làm bằng chất liệu giấy mềm mà chúng ta sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn, vì vậy, sau khi dùng xong chúng ta phải làm cho những chỗ bị quăn góc hay bị nhăn được thẳng trở lại, sau đó để trở lại chỗ đựng sách hay ngăn cặp cẩn thận.

Sách Ngữ Văn 8 cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức quan trọng mà ở các lớp dưới vẫn chưa được học. Và không chỉ ở hiện tại mà ngay cả tương lai, quyển sách này vẫn luôn luôn là 1 người bạn đồng hành bổ ích và đáng tin cậy của học sinh.

Giới Thiệu Bài 🌿Thuyết Minh Về Cây Bút Máy ❤️️15 Mẫu Về Chiếc Bút Mực Hay

Trong hoạt động dạy của giáo viên cũng như hoạt động học của học sinh, không chỉ cần các yếu tố chủ thể như người giáo viên, học sinh mà còn cần đến sự hỗ trợ của rất nhiều các yếu tố khác như: không gian học, các phương tiện hỗ trợ như: bảng, phấn, bàn học, ghế …và một vật dụng không thể thiếu, đảm bảo quá trình dạy và học có thể diễn ra thuận lợi, suôn sẻ và hiệu quả, đó là sách vở.

Sách là phương tiện hữu ích và không thể thiếu đối với mỗi học sinh, bởi không chỉ tiếp thu những tri thức thông qua lời giảng giải của giáo viên mà học sinh còn cần có sách vở để mở rộng tri thức cũng như củng cố những tri thức đã học. Như bao cuốn sách khác, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 1 cũng là một quyển sách vô cùng hữu ích đối với hoạt động học của học sinh.

Sách giáo khoa là cuốn sách do bộ giáo dục và đào tạo biên soạn theo nội dung, chương trình dạy và học của giáo viên và học sinh của các cấp. Theo đó, nội dung trong các cuốn sách giáo khoa phải đảm bảo các tiêu chí sau. Thứ nhất, đó là về tính chính xác, khoa học, nghĩa là những kiến thức, nội dung được đưa vào trong chương trình dạy phải đảm bảo tính chuẩn xác về kiến thức, là những kiến thức đã được các nhà khoa học ở Việt Nam cũng như trên thế giới kiểm chứng về tính chuẩn mực của nó.

Thứ hai, đó chính là tính phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh từng lứa tuổi, bởi lẽ không đảm bảo tính vừa trình độ, kiến thức đưa vào dễ qua hoặc khó quá thì sẽ không mang lại hiệu quả giáo dục cao, học sinh sẽ lơ là hoặc cảm thấy áp lực trong hoạt động học.

Yếu tố thứ ba nữa đó chính là nội dung đưa vào phải chứa đựng kiến thức, cùng với đó là những nội dung mang tính giáo dục cao để học sinh không chỉ biết tiếp thu mà còn biết thực hành, không chỉ học những lí thuyết suông mà còn biết vận dụng vào trong đời sống thực tiễn. Trên cơ sở tiền đề vừa nêu, tôi nhận thấy quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một đảm bảo được đầy đủ những yêu cầu đó, không chỉ về mặt nội dung mà cả về mặt hình thức đều được đảm bảo.

Sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một do nhà xuất bản giáo dục xuất bản, tùy nhu cầu sử dụng của học sinh và giáo viên mà nhà xuất bản sẽ tiến hành những lần xuất bản khác nhau, và thời gian xuất bản, lần xuất bản cũng được ghi chú rõ trong trang cuối của mỗi quyển sách giáo khoa này, chẳng hạn như cuốn sách giáo khoa của tôi được xuất bản lần thứ sáu, vào tháng bảy năm hai ngàn không trăm mười lăm.

Về cơ bản, nội dung cuốn sách giáo khoa ngữ văn đều được giữ nguyên, cả về hình thức cũng vậy. Do đó mà các lần xuất bản khác nhau chỉ khác nhau ở ghi chú thời gian, còn nội dung và hình thức được đảm bảo tuyệt đối. Nếu hy hữu lắm có sự thay đổi thì có lẽ đó là ở chất lượng giấy.

Quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một của tôi có màu sắc sáng hơn so với đứa bạn cùng bàn. Tuy nhiên, về cơ bản thì nội dung vẫn được giữ nguyên. Cuốn sách giáo khoa ngữ văn lớp tám có chiều dài là hai mươi cen ti mét và chiều rộng khoảng mười cen ti mét, độ dày của cuốn sách cũng rất phù hợp, không dày quá mà cũng không mỏng quá. Về cấu tạo hình thức bên ngoài đều rất thuận tiện, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của học sinh cũng như giáo viên.

Ở cuối mỗi cuốn sách giáo khoa lớp tám tập một đều có dán tem của bộ giáo dục và đào tạo, đó chính là sự xác nhận cho học sinh cũng như phụ huynh biết được đó chính là do bộ giáo dục biên soạn, tránh được những trường hợp, các cơ sở in ấn bên ngoài sản xuất lậu, tạo ra những quyển sách không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Giá của cuốn sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một cũng được in rõ ở ngay cuối của bìa sách, ở dìa ngoài cùng của bên tay phải. Và giá của cuốn sách này là mười hai nghìn năm trăm đồng. Quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám này cũng như bao quyển sách giáo khoa khác vì được bộ giáo dục hỗ trợ giá nên giá trị của nó rất vừa phải, ai cũng có thể mua để sử dụng.

Đấy là về mặt hình thức, còn về mặt nội dung của quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám cũng rất phù hợp đối với trình độ của học sinh, quyển sách này bao gồm các đơn vị kiến thức mới, ví dụ như phần tập làm văn sẽ có các bài văn về nghị luận xã hội, thuyết minh về một vật hay về một sự kiện, địa danh nào đó. Về phần văn thì có các văn bản chức năng thuộc các thể loại như chiếu, cáo, biểu. Ví dụ như các văn bản: Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi…

Quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một không chỉ được đảm bảo về hình thức bên ngoài mà ngay những nội dung được đưa vào cũng đảm bảo tính mới mẻ, kiến thức, nội dung đảm bảo tính vừa sức, chuẩn mực. cũng vì vậy mà học sinh lớp tám sẽ được học những đơn vị kiến thức của môn ngữ văn lớp tám đầy bổ ích.

Đọc Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Chiếc Bút Bi Lớp 8 ❤️️15 Mẫu Về Cây Bút Bi Hay

Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Tập 1 Điểm 10 để lại nhiều ấn tượng cho các bạn với cách diễn đạt văn hay, cách dùng từ ngữ sáng tạo.

Một trong những hành trang không thể thiếu cho quá trình học tập của người học sinh đó chính là những quyển sách giáo khoa. Sách giáo khoa là sản phẩm của tri thức, được ra đời nhằm hỗ trợ việc học, cung cấp kiến thức cho người học. Sách được biên soạn vào mục đích giảng dạy tại trường học, thể hiện nội dung cụ thể của chương trình phổ thông. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 là một trong những quyển nằm trong bộ sách giáo khoa dành cho môn Ngữ văn.

Tất cả sách giáo khoa đều là sự cụ thể hóa của chương trình học, để xuất bản ra một quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 sẽ phải có một hội đồng biên soạn chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập với nhiều giáo sư chuyên ngành Ngữ văn. Sau khi biên soạn chương trình phải trải qua quá trình thẩm định và kiểm tra kỹ lưỡng trước khi thông qua và đem vào giảng dạy thử nghiệm.

Trải qua thử nghiệm Nhà xuất bản Giáo dục sẽ là đơn vị chuyên trách in ấn và phát hành sách sử dụng đại trà. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 có hình chữ nhật đứng độ dày khoảng 1cm với kích thước 17cm x 24cm gồm tất cả 167 trang.

Sách nổi bật với bìa trước màu hồng phấn và khóm hoa màu xanh vàng in trên bìa, trên đầu sách là tên “Bộ Giáo dục và Đào tạo”, tên sách “Ngữ văn” màu tím than được viết to, số 8 màu trắng và góc dưới bên phải bìa là logo và tên “Nhà xuất bản giáo dục”. Bìa sau của sách có hình Huân chương Hồ Chí Minh, logo của bộ giáo dục và bảng danh sách các quyển sách giáo khoa trong chương trình lớp 8.

Giấy in sách có màu hơi sậm chống lóa và mỏi mắt cho học sinh, chữ hoàn toàn là màu đen chỉ khác nhau về kích cỡ chữ ở các đề mục, mọi câu chữ đều chính xác và chuẩn chỉ đến từng dấu chấm, dấu phẩy. Nội dung trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 là một kho tàng văn học khá phong phú bao gồm ba phần lớn đó là văn bản, tiếng Việt và tập làm văn.

Phần văn bản sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức văn học qua các tác phẩm văn xuôi, truyện, thơ của cả Việt Nam và nước ngoài ví dụ như truyện ngắn “Cô bé bán diêm”, bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”, văn bản nhật dụng “Bài toán dân số”. Phần tiếng Việt giống như phần ứng dụng và thực hành luôn trong bài học về các loại câu, dấu, từ, ví dụ như bài “Từ tượng hình, từ tượng thanh”, “Nói quá”, “Câu ghép”, “Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm”.

Sách giáo khoa nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 nói riêng là công cụ học tập quan trọng, cần thiết của mỗi người học sinh chúng ta, chính vì vậy mọi người phải có ý thức sử dụng đúng mục đích, tự giác giữ gìn cẩn thận không để dính nước làm rách nát, quăn mép, nên bọc vở bằng báo hoặc bìa cứng để sau khi học xong còn để lại làm tư liệu hoặc cho các em lớp sau.

SCR.VN Gợi Ý 🌹 Thuyết Minh Về Cái Kéo Lớp 9 ❤️️15 Bài Mẫu Về Cây Kéo Hay

Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 Tập 1 Đơn Giản nhất được chia sẻ sau đây.

Sách Ngữ văn 8, tập một gồm 17 bài học. Mỗi bài thường gồm có ba phần: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn. Tuy nhiên không phải bài nào cũng có đủ ba phần, có bài chỉ có hai phần, có bài lại thêm cả phần Ôn tập và Kiểm tra. Trong đó, mỗi phần lại có cách trình bày phù hợp với đặc điểm riêng: Phần Văn, thưòng có các mục: văn bản, chú thích, đọc – hiểu văn bản, ghi nhớ, luyện tập. Phần Tiếng Việt, thường có các mục: bài tập hướng dẫn, ghi nhớ, luyện tập. Phần Tập làm văn thường có các mục: bài tập hướng dẫn, ghi nhớ, luyện tập.

Sách giáo khoa ngữ văn lớp 8 tập 1 cũng như bao loại quyển vở khác đều có bìa bên ngoài để bảo vệ những trang giấy bên trong quyển sách được trang trí bằng những hình ảnh đẹp, Mặt bìa bên ngoài trang đầu có màu hồng giống như màu lòng tôm. Phía trên bìa là hàng chữ đầu tiên viết bằng chữ in hoa ” BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO”.

Tiếp đến là hai chữ ” ngữ văn” được viết bằng chữ in với những nét viết mềm mại, uyển chuyển được tô bằng màu xanh đậm. Dưới hai chữ đó là chữ” TẬP MỘT” được viết bằng chữ in nhưng nét chữ nhỏ, thanh màu hồng đậm để phân biệt tập một với tập hai.Phía góc bên phải dưới dòng chữ “Ngữ văn” là số “8” to, màn trắng làm nổi bật cả trang bìa.

Trên bìa được trang trí bằng một khóm hoa có những bông hoa màu vàng tươi đang nở rộ gồm sáu cánh hoa mỏng, mềm, xen kẽ trong những chiếc lá dài màu xanh dương. Phía dưới của trang là lô gô của bộ giáo dục ” NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM”. Bài ở cuối sách cũng được ghi viết, bên trái của bìa là huân chương Hồ Chí Minh thể hiện niềm tự hào của dân tộc. Góc phải là một lô gô của bộ giáo dục có hình ngôi sao trên quyển vở, trong trang ghi năm lăm năm như để khẳng định bề dày lịch sử của sách.

Tiếp dưới là phần giới thiệu toàn bộ sách giáo khoa lớp tám được viết ở trung tâm bìa trong khung màu xanh nhạt hình chữ nhật. Cuối bìa là tem dán để nói lên chất lượng uy tín của sách và có giá tiền của sách. Trong giấy của sách được in theo khổ 17x24cm.

Không kém gì về mặt hình thức, sách giáo khoa ngữ văn lớp tám có phần nội dung rất đa dạng và phong phú, quyển sách gồm 17 bài, mỗi bài gồm ba phân môn: văn bản, tiếng việt, tập làm văn. Về phần văn bản cung cấp dữ liệu của phần văn bản truyện thơ,… Sau văn bản là phần chú thích về tác giả, tác phẩm, có phần chú thích giải nghĩa cho các từ khó hiểu trong bài.

Sau phần chú thích là đọc hiểu văn bản, muốn học tốt được văn bản thì học sinh cần phải soạn bài, trả lời câu hỏi trong phần này trước ở nhà, chốt lại kiến thức trong văn bản ghi lại trong khung ghi nhớ. Để ứng dụng, thực hành luôn bài học của phần luyện tập để học sinh củng cố lại kiến thức.

Nội dung của văn bản nhằm cung cấp cho tuổi học trò về văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Trong quyển có dòng tác phẩm văn học hiện thực phê phán với những tác phẩm cùng tên tuổi của các nhà văn nổi tiếng được chọn lọc như nhà văn Nam Cao với chuyện hắn ” lão Hạc”, Ngô Tất Tố với tác phẩm ” tắt đèn” trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” .

Học sinh không chỉ biết đến những tác phẩm văn học trong nước mà còn biết đến những văn học nước ngoài như văn học ở Mĩ, Tây Ban Nha, Đan Mạch… ngoài ra còn một số tác phẩm thơ, văn bản nhật dụng. Về phần tiếng việt cung cấp cho học sinh kiến thức về các loại câu, loại từ và các dấu câu. Phần tập làm văn cũng theo cấu trúc như phần tiếng việt văn bản nhằm cung cấp kiến thức về văn tự sự và kiểu văn bản thuyết minh để củng cố các phương pháp viết văn, giúp nâng cao giao tiếp hàng ngày.

Sách ngữ văn lớp 8 tập một cung cấp cho ta tri thức, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng giao tiếp của mỗi học trò. Nó rất quan trọng, gần gũi với mỗi lứa tuổi học sinh lớp 8. Vì vậy cần bảo vệ, giữ gìn, nâng niu và yêu quý sách.

Tham Khảo Bài 💧 Thuyết Minh Về Chiếc Cặp Sách ❤️️ 15 Bài Mẫu Về Cái Cặp Hay

Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Tập 2 Chọn Lọc từ chúng tôi và chia sẻ đến các bạn đọc quan tâm sau đây.

Đối với học sinh, sách giáo khoa có vai trò vô cùng quan trọng trong công việc học tập. Một trong số đó là cuốn sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2.

Quyển sách có dạng hình chữ nhật đứng, khá dày và to hơn cuốn tập bình thường một chút. Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Cuốn sách gồm một trăm năm mươi chín trang, phần gáy sách được đóng rất gọn gàng. Các trang sách được in bằng loại giấy mỏng, màu hơi ngà tỏa ra một mùi thơm ngây ngây.

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học của văn học Việt Nam cũng như văn học nước ngoài. Các tác phẩm văn học Việt Nam thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…).

Các tác phẩm văn học nước ngoài như Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Về phần Tiếng Việt sẽ là phần kiến thức về ngữ pháp như các kiểu câu, hành động nói, hội thoại… được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn. Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, học sinh còn được tìm hiểu thêm về văn nghị luận.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 được làm bằng chất liệu giấy mềm mà chúng ta sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn. Vì vậy, học sinh cần có ý thức giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách. Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

Sách Ngữ Văn, tập 2 cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức quan trọng mà ở các lớp dưới vẫn chưa được học. Và không chỉ ở hiện tại mà ngay cả tương lai, quyển sách này vẫn luôn luôn là một người bạn đồng hành bổ ích và đáng tin cậy của học sinh.

Đọc Thêm Bài 🌵 Tả Một Đồ Dùng Học Tập Mà Em Yêu Thích ❤️️ 15 Bài Hay

Thuyết Minh Về Quyển Sách Mà Em Biết Ngắn, cùng tham khảo bài văn giới thiệu khái quát về quyển sách Ngữ Văn 8 sau đây.

Nguồn gốc của sách giáo khoa ngữ văn lớp 8: nhà xuất bản giáo dục đều do các tiến sĩ, giáo sư đầu ngành của bộ môn ngữ văn biên soạn.

Quyển sách có bìa bên ngoài màu lòng tôm( hồng), trên cuốn sách có chữ in hoa ” BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO”. Tiếp đến là chữ ” Ngữ văn” được viết bằng chữ in hoa to mềm mại màu xanh dương. Dưới hai chữ đó là số 8 màu vàng làm nổi bật trang bìa. Trên bìa trang trí một khóm hoa màu vàng với những chiếc lá… dưới bìa sách là lô gô của Bộ giáo dục. Trang sau cuốn sách là bìa, bên trái bìa là huân chương Hồ Chí Minh niềm tự hào của dân tộc, góc phải của lô gô của bộ giáo dục màu đỏ.

Tiếp dưới là phần giới thiệu toàn bộ sách giáo khoa lớp 8 được viết trong khung Hồ Chí Minh xanh, dưới cùng là tem với giá tiền.

Chia Sẻ Bài 🌵 Tả Đồ Dùng Học Tập ❤️️ 15 Bài Văn Miêu Tả Hay Nhất

Thuyết Minh Về Quyển Sách Giáo Khoa Lớp 8 Chi Tiết giúp các em có thêm nhiều thông tin hay để làm văn tốt nhất.

Phần Tiếng Việt tập trung chủ yếu và nghĩa của từ, từ loại và cấu trúc ngữ pháp của câu, các biện pháp tu từ. Đối với phần tập làm văn nội dung trọng yếu ở phần tạo lập các văn bản thuyết minh, cách áp dụng các phương pháp thuyết minh khi viết. Cách trình bày sách khoa học theo các đề mục lý thuyết, ghi nhớ, luyện tập thực hành giúp người sử dụng (giáo viên, học sinh) có thể dễ dàng xâu chuỗi kiến thức.

Đọc Thêm Bài 💦Thuyết Minh Về Chiếc Xe Đạp ❤️️15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Lớp 8 Tập 1 Ngắn Nhất gọn súc tích thể hiện qua từng câu văn, hình ảnh gợi tả chân thực và sinh động.

Không như các đồ vật khác, quyển sách Ngữ Văn 8, Tập 1 do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành hàng năm dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần mỗi năm. Sách được sử dụng để giảng dạy và học tập trong học kì 1, lớp 8. Trong lịch sử, sách Ngữ văn lớp 8, tập 1 được biên soạn nhiều lần, có bổ sung sửa đổi cho phù hợp với từng thời đại. (Thuyết minh sách giáo khoa Sách Ngữ Văn)

Để có được một quyển sách với nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Quyển sách ra đời là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy giáo có kinh nghiệm trong cả nước. Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục đảm nhận.

Đặc điểm hình thức quyển Ngữ văn lớp 8, tập 1:

Bìa trước là dòng chữ: Ngữ Văn 8, tập 1. Chữ được tô màu xanh dương làm nổi bật trên nền bìa hồng phấn. Sự lựa chọn màu sắc tinh tế. Đây là màu yêu thích của các học sinh đang ở lứa tuổi thích khám phá, giàu mơ mộng.

Từ phía góc dưới đến giữa quyển sách là khóm hoa vàng lá màu xanh dương tạo nên nét hài hòa thật bắt mắt. Đầu trang bìa là dòng chữ: Bộ giáo dục và Đào tạo. Logo Nhà xuất bản Giáo dục đặt ở phía bên phải cuối bìa. Thật tinh tế khi các nhà thiết kế chọn màu hồng phấn làm nền cho bìa. Nó rất phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 8 đang độ mộng mơ, hồn nhiên và vô cùng nhạy cảm với thế giới xung quanh.

Bìa sau của sách có nền màu trắng. Hai bên trái, phải ở trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miệng kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý và chất lượng của quyển sách. Bên dưới là tên các loại sách thuộc các môn học khác nằm trong chương trình lớp 8 được in với màu đen đặc sắc trên một khung nền màu hồng phấn như: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai),…, Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…).

Dưới cùng, nằm bên gốc phải là tem đảm bảo và giá bán. Góc bên trái là mã vạch sản phẩm để kiểm định sản phẩm. Hình thức trang bìa trang nhã, bố cục cân xứng, hài hòa, màu sắc bắt mắt chính là điểm nhấn nổi bậc của quyển sách này. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 1 thật sự phù hợp với học sinh lớp 8.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Thuyết Minh Về Trò Chơi Dân Gian Lớp 9 ❤️15+ Mẫu Ngắn Hay

Thuyết Minh Về Trò Chơi Dân Gian Lớp 9 ❤️ 15+ Mẫu Ngắn Hay ✅ Văn Mẫu Đề Tài Thuyết Minh Về Trò Chơi Dân Gian Dành Cho Học Sinh Lớp 9.

Bước 1: Xác định đề bài và phương pháp thuyết minh phù hợp.

Ngoài các phương pháp thuyết minh (nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích) còn có những phương pháp như thuyết minh bằng cách chú thích; thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên nhân – kết quả.

Bước 2: Lập dàn ý

Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu về đối tượng cần thuyết minh: trò chơi dân gian (gọi tên trò chơi mà bạn muốn thuyết minh) ví dụ: kéo co, thả diều, ô ăn quan,…

Thân bài: Nguồn gốc của trò chơi là gì? (vd: từ xa xưa); Đặc điểm trò chơi? Cách thức và luật chơi; Đối tượng tham gia trò chơi: Tất cả mọi người có nhu cầu giải trí bằng hình thức của trò chơi đó; Ý nghĩa của trò chơi dân gian?

Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của trò chơi dân gian trong đời sống tinh thần của con người.

Bước 3: Viết bài văn thuyết minh về trò chơi dân gian lớp 9

Hướng dẫn cho bạn mẫu dàn ý thuyết minh về 1 trò chơi dân gian dành cho các bạn học sinh lớp 9:

Mở bài

Giới thiệu về trò chơi dân gian bạn sẽ thuyết minh: kéo co, ô ăn quan, nhảy dây, trốn tìm,…

Một trong những nét văn hóa truyền thống của người dân Việt Nam để thể hiện qua rất nhiều hình thức. Một hình thức đó là các trò chơi dân gian. Trong đó nổi tiếng là trò chơi….

Thân bài

Giải thích khái niệm: Trò chơi dân gian là những hoạt động vui chơi giải trí do quần chúng nhân dân sáng tạo ra và được lưu truyền tự nhiên qua nhiều thế hệ, phản ánh đời sống tinh thần, văn hóa của dân tộc. Trò chơi dân gian là hình thức sinh hoạt cộng đồng được nhân dân tiếp cận và gắn bó nhiều nhất, diễn ra mọi lúc, mọi nơi, không hạn định về mặt thời gian, không gian.

Tìm hiểu về nguồn gốc của trò chơi: Trò chơi ra đời khi nào, lấy cảm hứng từ đâu? Ngày nay trò chơi có còn phổ biến không hay được lưu giữ tại bảo tàng?

Nêu những đặc điểm đặc trưng của trò chơi: Số lượng người chơi? Độ tuổi thường chơi? Thời gian chuẩn bị? Thời gian chơi? Các kỹ năng cần thiết? Các dịp tổ chức trò chơi (lễ hội, thi đấu…)? Đối tượng tham gia trò chơi: độ tuổi, giới tính, … Giới thiệu về cách thức chơi và luật chơi?

Ý nghĩa của trò chơi dân gian: Giải trí, tạo niềm vui cho con người. Nét văn hóa truyền thống của dân tộc

Kết bài:

Khẳng định lại ý nghĩa của trò chơi dân gian trong đời sống tinh thần của con người.

Trò chơi dân gian (Tên trò chơi) là một trong những trò chơi truyền thống được tổ chức ở các dịp lễ hội ở Việt Nam.

Mời bạn tham khảo văn 🌸 Thuyết Minh Về Trò Chơi Dân Gian Lớp 8 🌸 độc đáo!

Từ xưa đến nay, các trò chơi dân gian đã trở thành một phần giải trí không thể thiếu. Một trong những trò chơi thú vị có thể kể đến đó là rồng rắn lên mây.

Không thể khẳng định chắc chắn rằng trò chơi rồng rắn lên mây xuất hiện từ bao giờ. Nhưng có thể khẳng định, trò chơi này đã xuất hiện từ rất lâu, được trẻ con yêu thích. Đây cũng là trò chơi đã được phổ biến rộng rãi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Điểm khác nhau giữa ba miền là bài hát đồng dao dùng để hát khi chơi.

Số lượng người chơi phải từ năm người trở lên, càng đông sẽ càng vui. Người chơi cần phải oẳn tù tì hoặc bốc thăm để chọn người làm thầy thuốc. Những người còn sẽ xếp thành một hàng. Người sau túm lấy áo người trước.

Người đứng đầu gọi là đầu đàn (còn gọi là khúc đầu). Người này cần phải có ngoại hình cao to, khỏe mạnh để bảo vệ được những người đứng sau. Người đứng cuối gọi là khúc đuôi. Những người còn lại ở giữa gọi là khúc giữa.

Thầy thuốc sẽ đứng đối diện với đội rồng rắn, có nhiệm vụ phải bắt được người cuối cùng của đội rồng rắn. Người đi đầu phải giang rộng hai tay để ngăn thầy thuốc, không cho thầy bắt được khúc đuôi. Những người làm khúc giữa phải túm chặt áo và chạy nhanh chân để che khúc đuôi. Người làm khúc đuôi phải chạy thật nhanh để tránh thầy thuốc bắt được.

Khi trò chơi bắt đầu, tất cả người chơi trong đội rồng rắn hát bài đồng dao sau:

Nếu thầy thuốc trả lời là không, với một lí do nào đó thì đoàn rồng rắn sẽ lại tiếp tục hát bài đồng dao. Nếu thầy thuốc trả lời là có, thầy thuốc và đoàn rồng sẽ thay phiên nhau hỏi đáp:

“Thầy thuốc: Có, mẹ con rồng rắn đi đâu?

Rồng rắn: Rồng rắn đi lấy thuốc cho con.

Thầy thuốc: Con lên mấy?

Rồng rắn: Con lên một.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên hai.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên ba.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên bốn.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên năm.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên sáu.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên bảy.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên tám.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên chín.

Thầy thuốc: Thuốc chẳng ngon.

Rồng rắn: Con lên mười.

Thầy thuốc: Thuốc ngon vậy, xin khúc đầu.

Rồng rắn: Cùng xương cùng xẩu.

Thầy thuốc: Xin khúc giữa.

Rồng rắn: Cùng máu cùng me.

Thầy thuốc: Xin khúc đuôi

Rồng rắn: Tha hồ mà đuổi.”

Khi đoàn rồng rắn hát tới câu “tha hồ mà đuổi” thì thầy thuốc bắt đầu đuổi đoàn rồng rắn. Thầy thuốc cần phải chạm được khúc đuôi, có nghĩa là chạm vào người cuối cùng của đoàn rồng rắn để loại người đó. Cả những người bị đứt ra khỏi đoàn rồng rắn, cũng được xem như là thua cuộc và bị loại khỏi cuộc chơi.

Trò chơi rồng rắn lên mây giúp rèn luyện phản xạ, sự nhanh nhẹn. Đồng thời, trò chơi này còn tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó. Đây là một trò chơi thú vị, hấp dẫn.

Từ xa xưa, ” bịt mắt bắt dê ” đã trở thành một trò chơi dân gian gắn liền với thời thơ ấu của bao thế hệ. Trò chơi này thường được đám trẻ con trong xóm rủ nhau ra gốc đa, sân đình đầu làng để cùng nhau chơi, nô đùa mỗi buổi trưa, chiều. Cho đến ngày nay, trò chơi dân gian ” bịt mắt bắt dê ” được và được tổ chức nhiều trong các hội đình làng, các hoạt động ngoại khóa của trường học để các em có thể được tiếp cận với các giá trị văn hóa Việt Nam .

Theo như nguồn tài liệu của thế giới, thì trò chơi ” bịt mắt bắt dê ” được cho là có từ thời Hy Lạp cổ đại khoảng năm 600 Công Nguyên. Tại đây, trò chơi có tên gọi là ” copper mosquito” nghĩa là ” muỗi đồng”. Ở Băng – la – đét nó còn được trẻ em trong vùng gọi là ” Kanamachi” nghĩa là ” ruồi mù”.

Trò chơi ” bịt mắt bắt dê ” được mọi người biết đến rộng rãi từ thời Tudor ( 1485 – 1603 ) ở nước Anh. Đây được coi là một trong những trò chơi giải trí quen thuộc của các đại thần của nhà vua Henry VIII. Nó cũng là trò chơi được chơi phổ biến trong thời đại Victoria.

Ở Việt Nam, trò chơi ” bịt mắt bắt dê” là một trò chơi dân gian quen thuộc của bao thế hệ. Không rõ trò chơi này được lưu truyền vào Việt Nam từ khi nào nhưng nó được lưu truyền đến tận ngày nay. Trong những bức tranh cũ, bạn vẫn có thể thấy những cô bé, cậu bé và người lớn cùng nhau chơi bịt mắt bắt dê.

Chắc hẳn nhiều bạn thắc măvs tại sao lại là ” bắt dê”. Một lý do cho điều này là dê hiền lành, nhút nhát, linh hoạt và rất năng động. Bắt dê mở mắt đã khó, bắt dê bịt mắt còn khó hơn nhiều. Do đó, trò chơi này được đánh giá là khá khó nhưng rất thú vị và vui nhộn.

Trò chơi ” bịt mắt bắt dê” được tổ chức trong một không gian rộng rãi, phù hợp với số lượng người chơi và được khoanh vùng lại để người chơi định hình được các hướng đi lại. Địa hình khu tổ chức trò chơi phải là sân cỏ bằng phẳng, không gồ ghề để tránh người chơi vướng chân và ngã vào các vật nguy hiểm.

Số lượng người tham gia trò chơi sẽ không bị giới hạn, bao nhiêu người tham gia cũng được. Nhưng để ổn định và dễ dàng cho những người chơi thì khoảng 5 đến 10 người. Tất cả mọi người từ trẻ em đến người lớn đều có thể tham gia chơi ” bịt mắt bắt dê”, không phân biệt là nam hay nữ. Để có thể chơi được chúng ta cần phải có thêm một chiếc khăn dài tối màu để có thể bịt mắt người bắt dê lại, không nhìn được gì nữa.

Luật chơi của trò ” bịt mắt bắt dê ” cũng rất đơn giản và dễ nhớ. Một người sẽ bị bịt mắt lại, còn những người còn lại sẽ làm dê cho người đó bắt. Cả nhóm sẽ cùng nhau oẳn tù tì hoặc bốc thăm xem ai sẽ bị bịt mắt, ai sẽ làm dê. Cũng có thể là một người đứng ra xung phong bị bịt mắt.

Sau khi tìm được người sẽ bị bịt mắt, chúng ta sẽ lấy chiếc khăn tối màu mềm để bịt mắt người đó lại, không được tí hí mắt để tránh trường hợp gian lận khi chơi. Nếu gian lận khi chơi coi như là đã phạm luật. Sau khi nghe hiệu lệnh ” bắt đầu ” những người làm dê sẽ chạy xung quanh người bị bịt mắt trong khu vực đã quy định và liên tục hò reo tiếng con dê để người bịt mắt có thể định hướng được vị trí để bắt.

Chúng ta cũng có thể làm các hành động hò reo nhằm đánh lạc phương hướng, sự chú ý của người bịt mắt. Những người làm dê tuyệt đối không được chạy khỏi khu vực đã quy định từ trước. Đối với những người bị bịt mắt phải thật nhạy bén, linh hoạt để phán đoán vị trí của người làm dê. Mọi người xung quanh khi xem chỉ được hò reo chứ không được nhắc cho người bị bịt mắt vị trí của dê, để họ tự di chuyển.

Khi người bị bịt mắt bắt được ai trong những người làm dê thì phải đoán đúng tên người đó thì sẽ giành phần thắng. Người bị bắt sẽ tiếp tục thay thế cho người bị bịt mắt lúc đầu và trò chơi được tiếp tục.

Trò chơi ” bịt mắt bắt dê ” thường được tổ chức trong các lễ hội đình làng ở vùng nông thôn với sự tham gia của đông đảo thanh niên, người lớn trong làng hoặc các hoạt động ngoại khóa tại trường học để tạo lên tinh thần đồng đội, gắn kết mọi người gần với nhau hơn. Đây cũng là một trò chơi cần sự khéo léo và nhanh nhẹn, nó rèn luyện cho bản thân chúng ta khả năng biết lắng nghe, phán đoán và quyết định mọi vấn đề trong cuộc sống. Bên cạnh đó, việc vui chơi giải trí cũng giúp mọi người giảm stress trong công việc, cuộc sống, mang lại tiếng cười, niềm vui khắp nơi.

Việc lưu giữ và tổ chức trò chơi ” bịt mắt bắt dê ” cũng mang lại ý nghĩa to lớn về giá trị văn hóa lịch sử cho dân tộc Việt Nam. Thể hiện sự tiếp nối truyền thống văn hóa dân gian từ bao đời nay của người dân Việt Nam ta.

Xã hội hiện đại phát triển đến mức con người có nhu cầu giải trí nhiều hơn. Tuy nhiên, những trò chơi truyền thống như trò bịt mắt bắt dê vẫn luôn là một phần ký ức tuổi thơ. Mọi người yêu thích những trò chơi này vì chúng là một phần của văn hóa Việt Nam và chúng rất đẹp. Đây là lý do tại sao chúng ta thấy hình ảnh của những trò chơi này trong các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của Việt Nam.

Chọn lọc những bài văn 🌸 Thuyết Minh Về Trò Chơi Bịt Mắt Bắt Dê 🌸 dành tặng bạn đọc.

Hình ảnh đoàn lân với trống xập xình dường như rất quen thuộc với tất cả chúng ta. Vào ngày Tết, các đoàn múa lân thường bận rộn hơn, hay trong các dịp khai trương, dịp Tết Trung thu thì hình đoàn lân cũng rất quen thuộc. Với mong muốn cầu sự thịnh vượng phát tài, của gia chủ cho cả gia đình và san sẻ với người xung quanh.

Múa lân thường được biểu diễn trong các dịp lễ Tết và các lễ hội truyền thống, văn hóa và tôn giáo. Hơn nữa, vào các dịp khai trương kinh doanh, lễ kỉ niệm hoặc lễ cưới, múa lân như là một lời chúc, lời cảm ơn của gia chủ. Bắt nguồn từ môn nghệ thuật múa nhân gian đường phố ở Trung Quốc. Bộ ba con thú Lân – Sư – Rồng theo quan niệm nhân gian Trung Hoa tượng trưng cho sự thịnh vượng, hạnh phúc, phát đạt,… Từ ngày văn hóa Trung Hoa vào Việt Nam, tục múa lân cũng từ đó mà rộng rãi hơn.

Hình ảnh lân và ông địa xuất phát từ một câu chuyện cổ Trung Hoa. Vào thuở sơ khai có một con thú cứ vào rằm tháng Tám là gây hoảng sợ cho dân làng. Một ngày nọ, có một nhà sư từ vùng đất xa xôi đến để giúp người dân trừ ác thú. Nhà sư cho đệ tử bụng to, mặc đồ đỏ rực, tay cầm chiếc quạt thần để xua ác thú và những để tự khác thì gióng trống khua chiêng dồn dập làm con ác thú khiếp sợ mà bỏ chạy.

Từ đó, sau nhiều lần cải biến, nó trở thành một môn nghệ thuật nhân gian cầu an lành, xua đuổi những điềm xấu.

Múa lân không chỉ là môn nghệ thuật nhân gian mà còn là lời cầu chúc sự thịnh vượng cho những tháng còn lại trong năm. Tùy theo không gian và mùa lễ hội, lân sư rồng sẽ có những bài múa khác nhau, không chỉ múa riêng lẻ mà còn có thể múa chung để tạo thành bộ ba hoàn hảo nhất.

Tùy theo vùng miền mà tên gọi của môn nghệ thuật này cũng khác nhau. Miền Bắc thường gọi là múa sư tử, miền Nam gọi chung là múa lân, và thường được múa vào trước tết trung thu, thường vào những đêm 12, 13 âm lịch và nhộn nhịp nhất là 14, 15 âm lịch.

Ở Việt Nam, múa lân vào dịp Tết trung thu là một niềm vui của trẻ thơ, một phần kí ức tuyệt đẹp trong mắt các bạn nhỏ. Những ngày rằm tháng Tám, lồng đèn ngập màu sắc, đường phố cùng nhộn nhịp thì tiếng trống thùng thình vang lên khắp trời mang lại những niềm vui cho con trẻ và cả người lớn.

Cờ vua, đôi khi còn được gọi là cờ phương Tây hoặc cờ quốc tế để phân biệt với các biến thể như cờ tướng, là một trò chơi board game dành cho hai người. Sau thời gian phát triển từ các trò chơi cổ tương tự có nguồn gốc từ Ấn Độ và Ba Tư, hình thức chơi hiện tại của cờ vua bắt đầu xuất hiện ở Nam Âu ở nửa sau của thế kỷ 15.

Ngày nay, cờ vua là một trong những trò chơi phổ biến nhất thế giới, được hàng triệu người trên toàn thế giới chơi tại nhà, ở câu lạc bộ, trên trực tuyến, qua thư từ, và trong các giải đấu. Cờ vua được yêu thích ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Nga.

Trò chơi sử dụng một bàn cờ hình vuông chia thành 64 ô vuông nhỏ hơn với 8 hàng ngang và 8 hàng dọc. Mỗi người chơi sẽ bắt đầu với 16 quân cờ, bao gồm 8 con tốt, 2 mã, 2 tượng, 2 xe, 1 hậu và 1 vua. Mục tiêu của người chơi là cố gắng chiếu hết vua đối phương. Vua được gọi bị “chiếu hết” khi đang bị chiếu mà không có cách nào thoát ra. Khi một người chơi bị chiếu hết, trò chơi kết thúc hay nói cách khác người chơi đó đã thua. Cũng có một số trường hợp mà trò chơi có thể kết thúc với tỷ số hòa.

Trong suốt ván cờ, hai người chơi thay phiên nhau di chuyển một quân cờ của mình đến một vị trí khác trên bàn cờ. Một người chơi sẽ cầm quân cờ màu trắng và người còn lại sẽ cầm quân cờ đen. Có các quy tắc nhất định về việc di chuyển các quân cờ cũng như việc ăn quân của đối thủ. Người chơi cầm quân cờ trắng sẽ đi trước. Do đó, người chơi cầm quân trắng thường sẽ có một lợi thế nhỏ và có tỷ lệ thắng cao hơn.

Cờ vua với hình thức có tổ chức xuất hiện vào thế kỷ 19. Ngày nay, việc thi đấu cờ vua quốc tế được quản lý bởi FIDE (Liên đoàn Cờ vua quốc tế). Một phần lớn lý thuyết cờ vua đã được phát triển từ khi trò chơi ra đời. Nhiều khía cạnh nghệ thuật được tìm thấy trong bố cục cờ vua; cờ vua đã ảnh hưởng đến văn hóa và nghệ thuật phương Tây, cũng như có mối liên hệ với các lĩnh vực khác như toán học, khoa học máy tính và tâm lý học.

Cờ vua không phải là một trò chơi may rủi, nó dựa thuần túy vào chiến thuật và chiến lược. Tuy thế, trò chơi này phức tạp đến mức thậm chí cả những người chơi hay nhất cũng không thể tính hết tất cả mọi phương án: mặc dù chỉ có 64 ô và 32 quân cờ trên bàn cờ nhưng số lượng nước đi có thể được thì còn vượt xa cả số lượng các nguyên tử có trong vũ trụ.

Bài văn thuyết minh về trò chơi dân gian ô ăn quan sau đây sẽ cho bạn học sinh lớp 9 biết cách viết bài hay và ấn tượng.

Bài đồng dao thơ ấu quen thuộc dường như đã nằm gọn trong tiềm thức chúng ta khi nhớ về trò chơi “Ô ăn quan”. Không khó để bắt gặp những đám trẻ đang tụm năm tụm bảy chăm chú hồi hộp “đi quân” bằng cách thả những viên đá, sỏi vào ô quan vẽ trên đất ở các miền quê, hay tiến bộ hơn là các ô quan màu sắc in sẵn trên giấy và hạt nhựa đối với thành thị. Ô quan đã đi xuyên qua quá khứ bụi bặm của mình, để chuyển mình từ một trò chơi dân gian cho trẻ em chân đất ao bùn thôn quê, thành một thú vui vừa mang tính giải trí lẫn giáo dục cho trẻ em thời hiện đại.

Đầu tiên, vẽ một hình chữ nhật được chia đôi theo chiều dài và ngăn thành 5 hàng dọc cách khoảng đều nhau, ta có được 10 ô vuông nhỏ. Hai đầu hình chữ nhật được vẽ thành 2 hình vòng cung, đó là 2 ô quan lớn đặc trưng cho mỗi bên, đặt vào đó một viên sỏi lớn có hình thể và màu sắc khác nhau để dễ phân biệt hai bên, mỗi ô vuông được đặt 5 viên sỏi nhỏ, mỗi bên có 5 ô.

Hai người hai bên, người thứ nhất đi quan với nắm sỏi trong ô vuông nhỏ tùy vào người chơi chọn ô, sỏi được rải đều chung quanh từng viên một trong những ô vuông cả phần của ô quan lớn, khi đến hòn sỏi cuối cùng ta vẫn bắt lấy ô bên cạnh và cứ thế tiếp tục đi quan (bỏ những viên sỏi nhỏ vào từng ô liên tục). Cho đến lúc nào viên sỏi cuối cùng được dừng cách khoảng là một ô trống, như thế là ta chặp ô trống bắt lấy phần sỏi trong ô bên cạnh để nhặt ra ngoài. Vậy là những viên sỏi đó đã thuộc về người chơi, và người đối diện mới được bắt đầu.

Đến lượt đối phương đi quan cũng như người đầu tiên, cả hai thay phiên nhau đi quan cho đến khi nào nhặt được phần ô quan lớn và lấy được hết phần của đối phương. Như thế người đối diện đã thua hết quan. Hết quan tàn dân, thu quân kéo về. Hết ván, bày lại như cũ, ai thiếu phải vay của bên kia. Tính thắng thua theo nợ các viên sỏi. Quan ăn 10 viên sỏi. Cách chơi ô ăn quan được nói lên rất đơn giản nhưng người chơi ô ăn quan đã giỏi thì việc tính toán rất tài tình mà người đối diện phải thua cuộc vì không còn quan (sỏi) bên phần mình để tiếp tục cuộc chơi…

Ô ăn quan là bóng hình kỉ niệm của một thời mang cả hương vị quê nhà và niềm vui của tuổi thơ. Chỉ cần một khoảng sân nhỏ, đất trống trong vườn, vài ba viên sỏi hay phấn màu là có thể cùng nhau chơi ô ăn quan. Ô ăn quan là một trò chơi dân gian để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng những ai đã từng là trẻ thơ. Trò chơi này còn là hình ảnh thật đời thường trong thơ văn của những nghệ sĩ tài hoa:

(Xuân Quỳnh)

Một trò chơi dễ chơi, mộc mạc lại mang tính trí tuệ như thế lẽ ra phải được coi trọng hơn trong xã hội hiện đại. Hơn nữa việc chơi ô ăn quan cũng góp phần bảo vệ một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc.

Như vậy, trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, việc gìn giữ và phát triển trò chơi ô ăn quan này càng ngày càng quan trọng và cần được lưu tâm. Rất tiếc khi mà cả người lớn và trẻ em chỉ thích những điều kì diệu trong thế giới ảo của game online thì họ lại bỏ quên những giá trị đẹp đời thường trong đó có trò ô ăn quan.

Chia sẻ đến bạn đọc lớp 9 bài văn thuyết minh về trò chơi dân gian bắn bi độc đáo nhất:

Trò chơi dân gian là một trong những món ăn tinh thần không thể thiếu, gắn bó với kỷ niệm tuổi thơ của nhiều thế hệ người dân Việt Nam. Chơi bi là một trong những trò chơi dân gian phổ biến nhất, đặc biệt được các bé trai yêu thích.

Với các bé ngoài việc học tập thì chúng cũng rất cần được thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải trí. Trò “Chơi bi” vừa giúp bé có những giây phút thư giãn bên bạn bè vừa rèn luyện khả năng khéo léo khi phải cố gắng để bắn trúng những mục tiêu khác nhau.

Chơi bi hứa hẹn sẽ giúp các bé gắn kết hơn với thiên nhiên, cây cối, bớt ham mê những trò chơi điện tử vô bổ. Thế giới của các bé sẽ rộng mở hơn, cùng bạn bè tạo nên những kỷ niệm giản dị nhưng thật quý báu, làm giàu thêm tình cảm, trí tuệ.

Số lượng người chơi bắn bi từ 2 bạn trở lên, số người chơi càng đông thì cuộc chơi càng gay go, hấp dẫn. Địa điểm chơi có thể là một khoảng đất trống bằng phẳng, có thể ở sân nhà, sân trường hay công viên.

Mỗi bạn chơi chuẩn bị ít nhất 1 viên bi. Người chơi hạch 2 mức song song khoảng cách từ 2 mét trở lên. Dùng trò oẳn tù tì để xác định quyền ai được ưu tiên đi sau. Điều này rất quan trọng vì ai đi sau có thể chọn chỗ nằm cho bi mình để dễ bắn trúng mục tiêu nhất.

Người chơi đứng ở vạch thứ nhất bắn bi bằng ngón tay hoặc lòng bàn tay để làm bi đến gần tới vạch thứ 2. Người chơi có thể đặt ngón tay cái xuống đất và bắn bi bằng ngón giữa hay ngón trỏ, tùy theo ai thuận tay nào thì bắn bằng tay đó, không bắt buộc. Bi của bạn nào gần vạch 2 hơn sẽ có quyền bắn những viên bi khác.

Nếu bắn trúng viên bi của ai thì người đó thua. Nếu bắn hụt sẽ đến lượt người gần mức thứ hai tính đến thời điểm đó. Cứ như vậy đến cuối cùng chỉ còn lại một người thắng cuộc. Người thắng cuộc có thể lấy viên bi của những người thua hoặc một phần quà nào đó theo thỏa thuận trước cuộc chơi.

Bạn có thể tham khảo bài văn thuyết minh về trò chơi dân gian trốn tìm bên dưới để viết văn hay hơn:

Ngày xưa, khi đời sống của người dân chưa được hiện đại và đầy đủ điều kiện như hiện nay. Không điện thoại, không tivi, máy tính,… thì các bạn nhỏ đã nghỉ ra nhiều trò chơi dân gian thú vị để cũng nhau vui đùa trong những buổi chiều mát mẻ.

Trong số trò chơi dân gian thì “Trốn Tìm” là một trò chơi được nhiều bạn nhỏ yêu thích. Một trò chơi đầy sáng tạo và mang đạm sắc màu tuổi thơ. Trò chơi “Trốn Tìm” được các bạn nhỏ tụ tập thành một nhóm từ 5 – 10 người hoặc có thể nhiều hơn.

Khi phân chia người trốn và người tìm. Tất cả sẽ oẳn tù xì, người nào thua sẽ là người tìm còn những người thắng sẽ tìm nơi trốn vào. Trốn càng kỹ và càng lâu thì người trốn càng có lợi. Đối với người tìm, sau khi oẳn tù xì xong. Bạn sẽ dùng một tấm vải bịt mắt lại khoảng 1 phút để mọi người có thời gian tìm chỗ trốn. Nếu không dùng tấm vài che mắt lại, người tìm có thể tự động nhắm mắt lại mà không được ăn gian mở mắt.

Sau ba mươi giây, người đi tìm sẽ đi xung quanh khu vực mà họ chơi để tìm kiếm những những người khác. Những người bị tìm thấy sẽ bị loại bỏ khỏi cuộc chơi, nếu như toàn bộ người chơi bị tìm ra thì người đi tìm sẽ sống sót và người đầu tiên bị tìm thấy sẽ tiếp tục thay người đi tìm chơi tiếp. Nếu người đi tìm không phát hiện ra mọi người trốn ở đâu, người đó có thể hô “tha gà” và người đó sẽ là người đi tìm ở lượt chơi tiếp theo cho đến lúc tìm thấy người thay thế.

Theo luật của trò chơi trốn tìm thì người đầu tiên bị tìm thấy sẽ có khả năng trở thành người đi tìm tiếp theo, nếu sau đó không có người nào giải cứu, khi ấy người đầu tiên bị tìm thấy sẽ tiếp tục thay thế cho người đi tìm. Chỉ đến người thứ hai, thứ ba và những người sau đó bất ngờ chạy ra tới nơi người tìm mà không bị họ phát hiện thì người đầu tiên bị tìm ra mới thoát cảnh đi tìm. Người đi tìm sẽ tiếp tục trò chơi mới và tìm người lại từ đầu.

Thường trò chơi “Trốn Tìm” này được diễn ra vào những buổi chiều mát trong không gian rộng và có nhiều chỗ ẩn nấp. những người đi trốn khó bị tìm ra bởi người đi tìm, trò chơi sẽ hấp dẫn hơn nhiều nếu người đi tìm không thể nào tìm ra nơi những người khác đang ẩn nấp. Những người chơi cũng hào hứng hơn trong việc trốn thật kĩ, không để cho người tìm tìm ra nơi trú ẩn của mình.

Tuy nhiên ngày nay với sự phát triển của công nghệ, trò chơi dân gian này dần không còn xuất hiện nữa. Thay vào đó các bạn em tập trung vào chơi game, xem tivi,… Điều này quả thật là đáng tiếc cho các em, những thế hệ không được trải qua cảm giải vui sướng và hồi hộp khi chơi trốn tìm cùng lũ bạn đồng trang lứa.

Để tạo điều kiện của các bạn nhỏ tuổi ngày càng được trải nhiệm thú vị với trò chơi dân gian này, các bậc phu huynh hạn chế tối đa với việc tiếp xúc với điện thoại, máy tính. Thay vào đó, bạn hãy cho con trẻ được vận động và chơi những trò chơi thú vị và hồi hộp trong khoảnh khắc trốn tìm hồi hộp và gây cấn.

Gợi ý đề tài 🌸 Thuyết Minh Về Trò Chơi Trốn Tìm 🌸 thú vị!

Nhảy bao bố có lẽ là một trò chơi dân gian đã rất quen thuộc với mỗi chúng ta. Không ai biết nguồn gốc của trò chơi từ đâu nhưng nó vẫn luôn hiện diện và từ từ đi vào đời sống văn hóa của dân tộc ta, trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi dịp hoạt động thể thao và trò chơi văn hóa của người Việt Nam.

Nhảy bao bố là trò chơi đã xuất hiện từ rất lâu, không ai biết rõ chính xác về nguồn gốc của nó nhưng hiện nay nó vẫn luon tồn tại và phát triển. Bao bố dùng để chỉ một loại bao tải to dệt bằng sợi chỉ gai thô. Tên gọi trò chơi nhảy bao bố có được là do bao bố chính là công cụ chính để chơi trò này.

Nhảy bao bố có thể chơi được ở bất cứ đâu, đặc biệt, nó rất được ưa chuộng trong các hoạt động tập thể tại trường hay trong các đợt tổ chức lễ hội, thi tập thể ở các địa phương tại Việt Nam.

Để chơi trò chơi này, chúng ta cần một không gian tương đối rộng và bằng phẳng để có thể chơi một cách thoải mái mà không gặp phải cản trở gì. Có thể là sân trường, sân thể thao, bãi biển,…Có lẽ đây là một trong những trò chơi đơn giản nhất bởi dụng cụ chơi cũng như yêu cầu cũng không nhiều. Chỉ cần một vạch kẻ ở đích đến và ở điểm xuất phát cùng những bao bố được chuẩn bị cho người chơi là trò chơi đã có thể tiến hành.

Nhảy bao bố là trò chơi không giới hạn độ tuổi hay giới tính, kể cả số lượng, tuy nhiên cần phải có từ hai người chơi trở lên. Người chơi cần chui vào bao bố, hai tay nắm miệng túi, đứng trước vạch xuất phát và nghe hiệu lệnh. Khi có hiệu lệnh xuất phát, người chơi sẽ nhảy hết sức về phía vạch đích rồi quay trở lại vạch xuất phát đập tay tiếp sức với người chơi tiếp theo.

Trong cuộc chơi, người nào nhảy trước hiệu lệnh xuất phát hoặc chưa đến vạch đích thì sẽ bị cho là phạm quy và bị loại. Hoặc khi người nhảy trước chưa về đến vạch tiếp sức mà người tiếp theo đã nhảy trước thì cũng là phạm quy. Phần thắng sẽ thuộc về đội về đích nhanh nhất và có ít lần phạm quy nhất.

Nhảy bao bố là trò chơi dân gian mang tính tập thể, nhằm rèn luyện sức khỏe, sức bật rất tốt. Khi chơi trò chơi này, tinh thần đoàn kết sẽ được củng cố hơn, mọi người sẽ vừa rèn luyện được sức khỏe, vừa nâng cao được tình thần đoàn kết và tình cảm.

Dù thời thế thay đổi, có rất nhiều trò chơi hiện đại đã ra đời và thu hút hơn nhưng những trò chơi dân gian vẫn luôn là một phần không thể thay thế trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Đó là một nét đẹp truyền thống chúng ta nên giữ gìn và phát huy để nó luôn tồn tại mãi.

Tham khảo ngay bài văn thuyết minh về trò chơi dân gian ú tim ngắn gọn mà bạn nên biết:

Trốn tìm hay còn có tên gọi khác là chơi 5-10 hoặc trò ú tim. Trò chơi ú tim này có thể chơi ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Trong căn nhà nhỏ ấm cúng hay giữa vườn cây râm mát. Sân đình, sân chùa vào những đêm trăng sáng là chỗ chơi lí tưởng cho đám trẻ trong làng.

Trò ú tim không cần đồ chơi. Dăm ba đứa bé túm tụm lại là trò chơi bắt đầu. Cả nhóm sẽ chỉ định một bạn quay mặt vào bờ tường hoặc thân cây nào đó rồi nhắm mắt lại và đếm: năm, mười, mười lăm, hai mươi… cho đến một trăm. Trong thời gian đó, các bạn khác sẽ tỏa ra tìm chỗ trốn.

Cả người trốn và người tìm đều cần vận dụng trí thông minh. Người trốn phải ẩn nấp vào những chỗ vừa bất ngờ vừa kín đáo. Người tìm phải quan sát, phán đoán xem các bạn có thể nấp ở những chỗ nào để nhanh chóng phát hiện.

Nhiều khi, người đi tìm bị đánh lạc hướng bởi những tiếng kêu vừa như trêu cợt, vừa như thách thức: Tớ ở đây cơ mà! cứ ran lên bốn phía. Người chơi ở trong tâm trạng hồi hộp, háo hức, thú vị vô cùng! Ai trốn không kĩ, bị phát hiện và gọi đúng tên thì sẽ phải nhắm mắt và đi tìm thay cho người trước.

Cuộc chơi cứ thế diễn ra trong khung cảnh êm đềm của quê hương. Những tiếng cười trẻ thơ trong trẻo vang lên không ngớt. Dưới ánh trăng vời vợi, bóng cây, bóng lá chập chờn lay động như cùng tham gia vào trò ú tim đầy thú vị của đám trẻ hồn nhiên, vô tư, đáng yêu biết mấy!

Sau này lớn lên, dẫu có đi bốn phương trời thì mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu, chắc chắn chúng ta chẳng thể nào quên những trò chơi dân dã như ú tim, kéo co, rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê, thả diều, chọi dế… bởi chúng như những sợi dây vô hình đan dệt nên tình bạn trong sáng, thắm thiết trong thời niên thiếu của mỗi con người.

Gửi tặng bạn đọc bài văn thuyết minh về trò chơi dân gian kéo co đặc sắc mà chúng tôi biên tập ở dưới:

Nhân dân Việt Nam ta từ bao đời nay vẫn luôn mặn mà, tha thiết với các lễ hội truyền thống dân tộc, ngoài phần rước lễ có nhiều nghi thức, trang trọng, mang tính hình thức cao, thì phần hội là phần thu hút người xem, người tham dự hơn cả.

Ở miền Bắc nước ta đặc biệt là các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, tháng 1 âm lịch được mệnh danh là tháng ăn chơi, hầu như mỗi làng mỗi xã đều có những lễ hội truyền thống, không lớn thì nhỏ, tạo điều kiện cho bà con, du khách vui chơi tham quan, đồng thời cũng là một phương pháp hay để giữ gìn nét đẹp trong văn hóa dân tộc.

Trong phần hội thường diễn ra các tiết mục ca múa, biểu diễn, hoặc tổ chức các trò chơi thi đấu giữa các làng các xã với nhau như: đua thuyền, nấu cơm, nhảy dây, chạy thi,… Trong số đó kéo co được xem là bộ môn thi đấu có tính phổ biến và ứng dụng cao nhất, bởi nó không chỉ xuất hiện trong lễ hội truyền thống mà còn có mặt trong mọi cuộc thi đấu thể thao giao lưu của các tổ chức.

Kéo co hay kéo dây là trò chơi dân gian quen thuộc, dễ chơi, dễ phân định thắng thua và người chơi cũng không cần phải trải quan huấn luyện gì bởi nó không phải là bộ môn cần kỹ thuật khéo léo, cao cấp mà là bộ môn thiên về thể lực và sự đoàn kết giữa đồng đội với nhau.

So sánh với các trò chơi dân gian truyền thống khác, thì người ta thường thích tham gia trò kéo co hơn bởi sự đông vui của đồng đội, phát huy được sức mạnh tập thể và tinh thần đoàn kết, thêm vào đó tương đối an toàn cho người chơi. Chính vì vậy kéo co đã trở thành trò chơi “quốc dân”, luôn luôn cố mặt trong các hội hè tập thể, trong trường học, nơi công sở và trong các lễ hội.

Kéo co có lẽ bắt nguồn sớm nhất tại cổ đại Ai Cập vào khoảng năm 2500 TCN theo như những vết chạm khắc trên các ngôi mộ cổ xưa, sau đó có mặt tại Hy Lạp vào khoảng năm 500 TCN và được xem như một môn thể thao. Ở Trung Quốc kéo co từng được coi là môn thể thao “vua” rất được ưa chuộng dưới triều Đường và triều Tống, còn ở châu Âu kéo co xuất hiện khá muộn vào khoảng thế kỷ thứ 16 tại Anh.

Về luật chơi thì cứ mỗi một nơi, một tổ chức lại tự đề ra luật và các quy chế tính điểm riêng. Nhưng về cơ bản kéo co là trò chơi đòi sự phối hợp lẫn nhau trong cùng một đội. Người ta chia người kéo co thành các đội theo các tiêu chí khác nhau: cùng làng, cùng xã, cùng đơn vị, cùng trường,… một số cá biệt có thể chia thành đội nam và đội nữ kéo với nhau. Số người giữa hai đội là như nhau, các đội có quyền tự chọn thành viên, thông thường các thành viên được chọn là người có sức vóc, chịu lăn xả, và đã có kinh nghiệm chơi thì càng tốt.

Dụng cụ chơi rất đơn giản chỉ là một sợi dây thừng lớn, chắc, đường kính khoảng 2cm, dài tầm 30m. Điểm giữa sợi dây được đánh dấu bằng cách cột một dải vải đỏ để làm mốc chiếu với vạch ngăn cách kẻ dưới đất để xác định thắng thua, từ điểm giữa tính về hai bên 1 mét nữa đều được đánh dấu bằng cách cột vải tương tự, để xác định định vị trí đứng và vị trí cầm dây của người đầu tiên.

Sân thi đấu là một sân phẳng, tốt nhất là sân cỏ hoặc sân đất có địa hình bằng phẳng, rộng rãi, không đọng nước, không có sỏi đá, rác rưởi. Trên sân người ta xác định điểm thi đấu bằng cách kẻ một vạch lớn ngăn cách giữa sân, sau đó mỗi bên kẻ thêm một vạch tại điểm cách vạch giữa 1 mét để xác định điểm đứng của người đầu tiên mỗi đội.

Một trận đấu thông thường có ba hiệp, đội nào thắng hai hiệp thì chiến thắng, nếu có nhiều đội cùng thi đấu thì tổ chức đấu loại dần theo sự bốc thăm ngẫu nhiên hai đội thi với nhau, đội nào thắng thì có quyền vào vòng trong, cứ như thế cho đến khi vào chung kết là hai đội mạnh nhất.

Trọng tài sẽ dải sợi dây dọc sân, điểm giữa sợi dây trùng với vạch mốc giữa sân, rồi ra hiệu cho hai đội vào vị trí, các thành viên của độ tự sắp xếp chỗ đúng theo kiểu so le, ví dụ những người số lẻ đứng bên phải, số chẵn đứng bên trái, hoặc chọn đứng hết về một phía để tập trung lực kéo, đồng thời chọn hai người khỏe nhất cho đứng vị trí đầu và vị trí cuối đóng vai trò làm trụ.

Hai đội chơi làm theo hiệu lệnh của trọng tài, nâng dây, căng dây và khi nghe tiếng trọng tài hô “kéo” thì cả hai đội dồn hết sức kéo dây về bên mình, đội nào kéo được đội bạn qua vạch phân cách giữa sân thì đội đó thắng. Cứ sau mỗi hiệp hai đội chơi lại đổi sân cho nhau, rồi tiếp tục kéo cho đủ 3 hiệp và trọng tài dựa trên sự quan sát của mình để phân định thắng thua.

Có một số lưu ý đối với người chơi khi tham gia kéo co để được an toàn và có một cách chơi đúng đắn, cũng như khả năng giành chiến thắng cao. Đó là phải trang bị tốt khi tham gia thi đấu, hãy chuẩn bị cho các tuyển thủ mỗi người một đôi găng tay dày và có độ ma sát cao, để tránh trầy xước cũng như nắm dây được tốt hơn, thêm vào đó người chơi cũng cần có một đôi giày vải mềm, đế có nhiều gân, khả năng bám trên mặt đất tốt để tránh trượt ngã khi đang dùng sức kéo.

Về tư thế kéo, người nào thuận bên nào thì đứng phía đó, nhưng vẫn phải sắp xếp sao cho hợp lý, khi nắm dây phải nắm vững và chắc, chân mở rộng, một trước một sau trùng xuống, người hơi đổ về phía sau, kẹp thừng kéo co vào nách. Vì kéo co là trò chơi đòi hỏi sự đoàn kết thế nên người trong một đội cần thống nhất chặt chẽ với nhau về việc dùng lực, có thể sử dụng các tiếng hô đều “1 2” hoặc “1 2 3” để tập trung sức kéo cùng lúc.

Kéo co là một trò chơi thú vị, tăng tính đồng đội và tinh thần đoàn kết giữa con người trong cùng một tập thể với nhau, đặc biệt là mang lại sự vui vẻ, thỏa mái khi chơi, khiến những người vốn không thích vận động cũng trở nên hào hứng hơn trong bộ môn này vì nó có tính “tập thể”. Hy vọng rằng kéo co sẽ mãi là một trò chơi truyền thống được yêu thích, đồng thời được nhiều người biết đến và tham gia chơi trong tương lai hơn nữa.

13+ mẫu giới thiệu 🌸 Thuyết Minh Về Trò Chơi Kéo Co 🌸 đặc sắc

Tuyển tập bài văn thuyết minh về trò chơi dân gian mèo đuổi chuột ấn tượng, mời các bạn cùng xem:

Trò chơi dân gian ngày nay đang được quan tâm đúng mức. Các trò chơi này thường được chơi ở những nơi sinh hoạt tập thể, trong trường học. Một trong những trò chơi đơn giản mà không cần chuẩn bị. Đó là trò Mèo đuổi chuột. Đây là trò chơi vui và bổ ích. Ta cùng tìm hiểu trò chơi này.

Chưa ai khẳng định chắc chắn trò chơi Mèo đuổi chuột có từ bao giờ. Trò chơi này đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời. Đây là trò chơi đã được phổ biến rộng rãi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Điểm khác nhau giữa ba miền là bài hát đồng dao dùng để hát khi chơi trò chơi này.Cách chơi

Số người tham gia chơi: khoảng 10 người trở lên. oẳn tù tì để chọn người làm mèo và người làm chuột. Người làm mèo và người làm chuột đứng riêng ra. Những người còn lại nắm tay nhau đứng thành vòng tròn. Sau đó, người làm mèo và người làm chuột ngồi quay lưng vào nhau ở giữa vòng tròn. Khi nghe hiệu lệnh xuất phát thì người làm chuột phải chạy thật nhanh và mèo thì cố sức đuổi theo chuột.

Khi chuột chạy tới vòng tròn thì hai người đứng chỗ vòng tròn đó phải giơ cao tay cho chuột chạy ra ngoài. Nếu mèo chạy đến vòng tròn, hai người đứng chỗ đó liền đứng sát lại nhau để mèo không chui ra được. Mèo phải tìm cửa khác để ra. Nếu khi đuổi, mèo “vồ” được vào người chuột thì coi như mèo dã thắng, chuột thua. Ván chơi kết thúc. Trò chơi lại tiếp tục bằng đôi khác đóng mèo và chuột. Người chơi vừa chơi vừa hát bài đồng dao sau:

“Mời bạn ra đây

Tay nắm chặt tay

Đứng thành vòng rộng

Chuột chui lỗ hổng.

Để chạy cho mau

Mèo đuổi phía sau

Chạy đâu cho thoát.

Thế là chú chuột

Lại hóa thành mèo

Co cẳng đuổi theo

Bắt mèo hóa chuột.

Trò chơi rất vui, tạo bầu không khí hào hứng, sôi nổi. Luyện tập sự nhanh nhẹn, khéo léo và rèn luyện sức dẻo dai.

Việt Nam ngoài những phong tục tập quán đa dạng, phong phú, nền văn hiến ngàn năm tuổi thì còn có một hệ thống đồ sộ những trò chơi dân gian, đó là những trò chơi được ông cha ta sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt tập thể. Đó là những trò chơi mang tính giải trí, tính cộng đồng cao bởi nó không phải là trò chơi cá nhân mà đòi hỏi mọi người tập trung lại mới có thể chơi.

Vì vậy mà Việt Nam luôn nổi tiếng với bạn bè thế giới bởi tính cố kết cộng đồng vô cùng cao. Tính đoàn kết thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống nhưng chỉ cần nhìn qua những khía cạnh nhỏ hơn, thông thường hơn của cuộc sống là có thể thấy rõ được điều này. Một trong những trò chơi dân gian khá phổ biến ở Việt Nam, chính là trò chơi nhảy dây.

Nhảy dây là một trò chơi dân gian vô cùng quen thuộc, đặc biệt là ở những vùng quê, vùng nông thôn ở Việt Nam, giống như trò chơi chi chi chành chành hay chơi xóc hòn thì trò nhảy dây cũng vô cùng đơn giản, chỉ cần một sợi dây là mọi người có thể tham gia. Một trong những đặc trưng riêng biệt của các trò chơi dân gian đó chính là tính cộng đồng cao.

Bởi vậy mà bất kể trò chơi dân gian nào cũng đòi hỏi sự tham gia của cả tập thể, nó giúp gắn kết quan hệ giữa người với người trong một cộng đồng. Mang tính giải trí cao bởi thời gian lễ hội diễn ra các trò chơi dân gian thường là vào khoảng thời gian nông nhàn trong sản xuất nông nghiệp, vào cuối những mùa vụ, khi những người nông dân đã hoàn thành công tác mùa vụ, đang trong thời gian chờ bước vào mùa vụ mới.

Trò chơi dân gian nhảy dây cũng có rất nhiều phiên bản và nhiều hình thức chơi, bởi ở những nơi khác nhau thì con người lại có xu hướng chơi những hình thức mà mình cho là thú vị nhất, phù hợp nhất với mình. Trước hết, nói đến trò nhảy dây truyền thống, đây chính là trò chơi đòi hỏi sự nhạy bén, tinh tế và sự khéo léo của đôi chân. Theo đó, sợ dây sẽ dùng trong trò chơi dân gian này chính là dây thừng, dây chão, đây đều là những thứ rất dễ tìm trong cuộc sống xưa, bởi nó là thứ dùng để trói, buộc đồ đạc của người nông dân.

Người chơi sẽ bao gồm từ năm đến mười người, chia ra làm hai nhóm, một nhóm sẽ đảm nhận nhiệm vụ quất dây, nhiệm vụ này cần có hai người, mỗi người đứng ở một đầu của sợi dây, cùng ăn ý cùng quất sợi dây theo hướng xuôi kim đồng hồ.

Nghe có vẻ dễ dàng nhưng nhiệm vụ này đòi hỏi sự nhịp nhàng của bàn tay, sự ăn ý của đồng đội, bởi nếu một người quất nhanh, một người quất chậm thì sợi dây thừng sẽ bị rối, người chơi sẽ không thể nhảy vào sợi dây được. Sợi dây thừng được quất lên sẽ tạo thành một vòng cung, có bán kính cao hơn đầu một người, bởi chỉ có như vậy người chơi mới có thể nhảy vào sợi dây, tương tác cùng với nó.

Nhóm còn lại sẽ là nhóm người chơi, nhóm này thì có thể có trên hai người, càng đông càng vui. Nhưng ngược lại, càng đông thì trò chơi càng trở nên khó khăn hơn, bởi đông người sẽ khó trong việc tương tác, nhịp nhàng nhảy. Người chơi sẽ nghe theo nhịp đếm một, hai, ba của người quất dây mà nhảy vào sợ dây, khi sợi dây chạm xuống mặt đất thì người chơi sẽ phải nhảy lên cao, sao cho đôi bàn chân của mình không làm vướng dây, người nhảy được càng nhiều thì sẽ là người chiến thắng.

Trò chơi thú vị hơn ở chỗ, đó chính là không phải từng người nhảy một mà sẽ gồm bốn người nhảy một lượt, hai người bên này, hai người bên kia.

Khi có hiệu lệnh để nhảy thì sẽ cùng nhau nhảy vào sợi dây làm sao cho đồng đều nhất, khi có nhiều người cùng nhảy thì sẽ khó có thể điều khiển đôi chân của mình hơn, nhưng nếu hiểu ý của đồng đội, nhịp nhàng nhảy lên được thì sẽ vô cùng đều đặn, đẹp mắt. Đây cũng là mục đích quan trọng của trò chơi, gắn kết mọi người lại với nhau, sau trò chơi mọi người sẽ hiểu nhau hơn, sẽ hiểu hơn quá trình hợp tác để hoàn thành một nhiệm vụ.

Thế mới nói, trò chơi dân gian tuy đơn giản, dễ chơi nhưng bao giờ nó cũng ẩn chứa trong đó những ý nghĩa nhân văn cao cả của ông cha ta.

Ở những dị bản khác thì trò chơi nhảy dây không phải dùng dây thừng, dây chão để chơi mà dùng một loại dây khác có độ đàn hồi, co giãn cao hơn, như dây chun, dây nịt… và cùng với đó thì hình thức của trò chơi cũng hoàn toàn khác biệt.

Thay vì sợi dây được quất cao lên để người chơi có thể nhảy vào thì trò chơi nhảy dây này sẽ do hai người đứng hai bên, để sợi dây vào chân của mình, người chơi phải nhảy vào khoảng trống của hai sợi dây, theo nhịp độ là: nhảy vào, xoạng ra, bắt chéo, nhảy vào và nhảy ra.

Quan trọng là hoạt động nhảy vào nhảy ra phải diễn ra thật nhanh, không được gián đoạn. Hoàn thành xong một phần thì sẽ có phần thi khó khăn hơn, mà người ta gọi là các bàn, thấp nhất là bàn gối, sau đó đến bàn đùi, bàn hông, bàn nách và cao nhất chính là bàn cổ. Cùng với đó là độ cao ngày càng được nâng lên.

Trò chơi dân gian nhảy dây tuy có nhiều phiên bản, ở mỗi phiên bản thì hình thức chơi có sự khác biệt, nhưng điểm chung chính là sự thú vị ở trò chơi, bởi nó đề cao tính cộng đồng, tính gắn kết giữa con người với nhau chứ không đơn giản là một trò chơi nhằm mục đích giải trí.

Mời các bạn tham khảo văn 🌸 Thuyết Minh Về Trò Chơi Nhảy Dây 🌸 hay nhất!

Trong những trò chơi dân gian lâu đời của dân tộc nhất định phải kể đến trò chơi kéo co, một trò chơi dùng sức mạnh của đồng đội để giành chiến thắng.

Kéo co có thể nói là trò chơi mang tính đồng đội, hợp với mọi lứa tuổi. Để tổ chức chơi kéo co, người chơi cần chuẩn bị một chiếc dây thừng dài. Tùy thuộc vào số lượng người chơi để chuẩn bị độ dài của dây cho phù hợp. Phần giữa của sợi dây được buộc dấu bằng vải màu, mỗi đội chơi thường có 10-15 người ngang sức ngang tài.

Khi trọng tài cất tiếng còi cất lên cả hai bên phải dồn hết sức mạnh để kéo dây về phía mình. Bên nào kéo phần vải đã được đánh dấu trên dây về nhiều hơn sẽ dành chiến thắng. Các đội sẽ có những cách bố trí chiến thuật chơi khác nhau, người đội trưởng thường đứng đầu làm chỗ dựa cho các thành viên. Những tiếng hô vang 1…2 được vang lên dõng dạc như một biện pháp khích lệ tinh thần cho các thành viên.

Trò chơi kéo co thường chơi trong các dịp lễ hội, trại hè như một cách để gắn kết tình cảm với nhau, thể hiện tình đoàn kết trong trường học, tổ chức.

Kéo co mãi là trò chơi đồng đội với tinh thần đồng đội cao mới giành được chiến thắng, cho dù sau này có nhiều trò chơi mới xuất hiện lôi cuốn nhưng những hoạt động ngoài trời mà thiếu kéo co như vắng đi một trò chơi thú vị và bổ ích.

Thả diều không chỉ là thú vui của trẻ con mà của nhiều người thuộc các lứa tuổi khác nhau. Một mảnh trời mùa hạ sẽ là không gian rộng lớn cho những cánh diều mặc sức vút lên cao. Chỉ mười đến mười lăm nghìn là ta sẽ có một chiếc diều khá đẹp. Nhưng bay bổng lên trời cao bằng chính sự khéo léo của đôi tay mới thật sự là thú vui của người chơi thả diều.

Muốn có một chiếc diều tốt do chính tay mình làm, ta cần có: Tre, phải là tre tươi, dẻo, cứng; Giấy: Tùy thuộc vào kích cỡ diều ta định làm, nhưng cứ chuẩn bị càng nhiều càng tiện; Dây: Nếu là diều to phải có dây to, nếu không sẽ bị đứt dây nửa chừng lúc đang thả diều, dây cũng phải hai ba cuộn mới đủ cho một chiếc diều cỡ thường; Hồ dán; Sáo (chỉ cần khi làm sáo diều to).

Diều có rất nhiều loại: Hình hộp, hình vuông, hình rồng, hình chim, hình người… Nhưng để bay cao và vững chắc là diều quạ. Vì thế ta hãy tự làm cho mình một chiếc diều hình quạ là tốt nhất.

Đầu tiên ta phải làm khung cánh bằng tre nứa. Có lẽ ta nên chuẩn bị hai thanh tre dài 90 cm thì vừa. Ta phải buộc vào thanh tre ở trên, đầu kia là thanh ở dưới sao cho thật thẳng bằng hai bên cánh. Thanh tre này ta nên để dài khoảng 22, 23cm thì đẹp. Nhưng như thế là chưa đủ, ta phải làm cho hai bên cánh cong lên bằng cách buộc hai đầu vào thanh trục ở giữa (buộc vào trung điểm của thanh trục).

Nhưng đừng có uốn cong quá kẻo gãy. Thường thì hai cánh sẽ không cong đều như đường tròn và cong tụ lại ở một chỗ, như thế cũng không sao. Thế là ta đã có được đôi cánh của con quạ giấy rồi. Tiếp theo là phần đầu và đuôi rất đơn giản:

Đầu: Ta chuẩn bị hai thanh tre nhỏ, ngắn khoảng 9-10cm, buộc vào sát cái trục rồi buộc tiếp vào đầu kia thành mũi nhọn.

Đuôi: Cũng là hai thanh tre nhưng dài hơn, khoảng từ 20-30cm, buộc thành hình tam giác. Nhưng một đầu nhọn của tam giác là gắn chặt với thanh trục (ở khoảng 1/3 trục), góc nhọn khoảng 70 độ thì vừa.

Khi đã có khung cả rồi thì ta mới dán giấy. Nếu giấy nhỏ thì ta phải dán từng đoạn của cánh và phải kín. Giấy được phủ lên cánh diều, vuốt một nếp theo đường dây, kéo cho phẳng rồi dán mép giấy vào xung quanh thanh tre. Đầu và đuôi cũng tương tự.

Cuối cùng là phần buộc dây (lèo). Ta phải đục hai lỗ nhỏ trên giấy sát thanh tre ở trên của cánh (hai lỗ nhỏ cân giữa trục, từ trục đến một lỗ khoảng 10-15cm), buộc hai đầu của sợi dây khoảng 3cm vào hai lỗ ta được một phần của lèo. Tiếp theo lấy một đoạn dây khoảng 30cm buộc vào trung điểm của đoạn dây trước, đầu kia buộc vào đuôi của trục.

Và đoạn dây nối với cuộn dây của ta sẽ buộc vào đoạn thứ hai ấy, buộc thật chắc nhưng vẫn di chuyển được trên dây thứ hai để chỉnh. Phần chính này khoảng từ 3-5cm (trên đoạn dây thứ hai tính từ phần buộc với dây thứ nhất). Như thế là ta đã có một con quạ giấy rồi.

Trò chơi thả diều sẽ mãi mãi là thú vui của nhiều người trong những ngày hè oi ả. Những ngày gió to, ta đem diều ra ngoài đồng hoặc nơi không bị vướng nhà cửa, dây điện mà đưa diều lên trời cao. Đảm bảo sẽ có những giây phút bình yên cùng một cánh chim và một mảng trời xanh biêng biếc.

Hướng dẫn 🌸 Thuyết Minh Về Trò Chơi Thả Diều, Cách Làm Diều 🌸 chi tiết!

“Cho tôi xin về thời ô ăn quan, rồi cùng chơi chắt rồi cùng chơi quay”. Lời bài hát cất lên lòng tôi lại nhớ về những ngày thơ ấu. Không siêu nhân, không điện tử, mấy đứa nhỏ trong làng kéo nhau ra bàn chơi ô ăn quan.

Mặc dù vậy, nhưng về cách chơi, chúng tôi vô cùng nắm rõ. Đầu tiên đến với khâu chuẩn bị. Trước hết phải chọn nơi để đặt bàn chơi, diện tích không cần quá lớn, chỉ cần đủ cho hai đến ba người chơi. Có thể là một góc nhỏ trong ngõ, hay ở đầu làng, hay trên một bàn đá. Tiếp đó là chuẩn bị một mảnh gạch nhỏ hay một viên phấn để vẽ khung chơi. Khung chơi ở đây hình chữ nhật, dài tầm một mét hoặc hơn tùy thuộc vào người chơi. Sau đó chia hình chữ nhật thành 10 ô bằng nhau.

Hai bên cạnh ngắn của hình chữ nhật tạo thành hình bán nguyệt hay hình vòng cung. Sau bước chuẩn bị, ta đi tìm 50 viên sỏi hoặc viên đá hoặc là những miếng nhựa có kích thước đều nhau, chia đều vào 10 ô trong hình chữ nhật gọi là ô dân. Còn hai ô vòng cung kia gọi là ô quan. Đặt vào mỗi bên một viên sỏi to hoặc một viên đá to có kích thước lớn, màu sắc khác nhau để phân biệt.

Sau khi đã chuẩn bị xong xuôi, hai người chơi được chia làm 2 đội: đội A và đội B. Để cho công bằng thì hai bên oẳn tù tì xem bên nào thắng tức là bên đấy được quyền xuất quân trước. Người chơi bên đội A(hoặc đội B)người viên thắng dùng 5 quân trong 10 ô bất kì rải lần lượt vào các ô còn lại xuôi ngược tùy ý bao gồm cả ô quan lớn. Tuy nhiên việc chia vào cả ô quan còn phụ thuộc vào cách chơi ở từng vùng miền. Đến khi 5 viên đá hay sỏi ta đa rải hết ở các ô thì tra có quyền lấy sỏi ở ô tiếp theo để tiếp tục rải. Cho đến khi nào viên sỏi cuối cùng được dùng cách khoảng là một ô trống thì số sỏi ở ô bên cạnh được bỏ ra ngoài và thuộc về người vừa rải chỗ đá hoặc sỏi ấy.

Và đến khi nào viên sỏi cuối cùng dừng lại ở 2 ô trống liên tiếp thì người đó coi như là mất lượt và phải nhường lại để bên B đi quân của mình. Người chơi tiếp theo cùng chơi tương tự như bên A chơi. Và cứ thế hai người đi quân cho đến khi số quân ở từng ô hết. Người nào có số viên đá hay sỏi nhiều hơn thì người đó thắng. Và còn một điều chú ý nữa ở đây đó là 1 quan được quy đổi thành 5 hay 10 dân còn phụ thuộc vào thỏa thuận của người chơi ban đầu.

Mặc dù nghe có vẻ chơi đơn giản nhưng để chiến thắng thì người chơi phải tính toán thật nhanh, đòi hỏi sự nhanh trí, bởi để tính toán cho bước đi tiếp theo sao cho có thể ăn được nhiều quân thì người chơi chỉ có thể suy nghĩ nhiều nhất trong 30 giây.

Như vậy việc chơi trò ô ăn quan không chỉ đem lại niềm vui cho các bạn thiếu nhi, cho những cô cậu học trò sau một giờ học căng thẳng ở trường. Hơn nữa khi chơi trò chơi này, nó sẽ thu hẹp khoảng cách giữa hai người chơi, tạo nên sự gần gũi, gắn kết tình bạn trở nên khăng khít. Rèn luyện cho người chơi kĩ năng tính toán tốt, xử lí tình huống một cách nhanh chóng.

Hơn nữa việc chơi ô ăn quan cũng góp phần bảo vệ một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc. Như vậy, trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, việc gìn giữ và phát triển trò chơi ô ăn quan này càng ngày càng quan trọng và cần được lưu tâm.

Mong rằng trò chơi này sẽ được phổ biến rộng hơn để nhiều bạn trẻ ở mọi lứa tuổi có thể tiếp cận được, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn cũng như phát triển trí óc cho các bạn.

Tổng hợp văn 🌸 Thuyết Minh Về Văn Miếu Quốc Tử Giám 🌸 hay nhất!

10 Bài Văn Thuyết Minh Về Một Nhạc Cụ Dân Tộc Hay Nhất

Việt Nam là đất nước có nền âm nhạc dân tộc đa dạng với rất nhiều nhạc cụ đặc sắc. Có thể kể tên một số loại như: đàn bầu, đàn nhị, sáo trúc, đàn đá, cồng chiêng Tây Nguyên, khèn,… Những nhạc cụ dân tộc này có nguồn gốc như thế nào, cấu tạo, cách sử dụng và ý nghĩa của nhạc cụ đó ra sao? Mời các bạn tham khảo một số bài văn thuyết minh về một loại nhạc cụ dân tộc mà chúng mình tổng hợp trong bài viết sau.

Bài văn thuyết minh về đàn bầu (bài số 2)

“Lẳng tai nghe đàn bầu, thánh thót trong đêm thâu

Tiếng đàn bầu của ta, cung thanh là tiếng mẹ

Cung trầm là giọng cha, ngân nga em vẫn hát

Tích tịch tình tình tang

Tiếng đàn bầu Việt Nam, ngân nga trong tiếng gió

Ôi! Cung thanh, cung trầm rung lòng người sâu thẳm”

Đó là những giai điệu vô cùng đẹp và da diết trong bài hát “Tiếng đàn bầu”. Trong bài hát có đề cập đến một loại nhạc cụ dân tộc đặc trưng của Việt Nam, đó là đàn bầu.

Đàn bầu là một loại nhạc cụ dân tộc có mặt phổ biến trong các dàn nhạc dân tộc của Việt Nam. Đàn bầu hay còn có tên gọi khác là độc huyền cầm. Loại đàn này khá đặc biệt, nó chỉ gồm có một dây. Khi chơi đàn, người nghệ sĩ sẽ dùng một thanh tre nhỏ hoặc một mảnh gảy để tạo ra những âm thanh, giai điệu trầm bổng khác nhau.

Hộp cộng hưởng của đàn bầu có thể làm bằng thân tre hoặc thân gỗ. Đàn làm bằng thân tre thường dùng cho những người đi hát Xẩm. Do điều kiện khó khăn, không có điều kiện chế tác kĩ càng, chi tiết mà người ta làm bằng loại vật liệu khá phổ biến và dễ kiếm này.

Mỗi chúng ta đều biết đến hình ảnh đàn bầu và âm thanh của nó, những giá trị to lớn mà đàn bầu thể hiện cũng mang những màu sắc và điều kiện quan trọng cho dân tộc đó là những điều kiện mang lại những giá trị có ý nghĩa dành cho cuộc sống của mỗi người.

Bài văn thuyết minh về sáo trúc (bài số 1)

Bài văn thuyết minh về đàn bầu (bài số 2)

Việt Nam là một đất nước có âm nhạc dân tộc đa dạng với rất nhiều nhạc cụ dân tộc và điệu ca đặc sắc. Một trong số những nhạc cụ truyền thống gắn liền với các lễ hội, phong tục dân gian chính là sáo trúc. Sáo trúc không chỉ là một loại nhạc cụ độc đáo mà còn được coi là quốc hồn của nền âm nhạc dân tộc.

Sáo trúc là một loại nhạc cụ có từ rất lâu đời. Cây sáo nói chung được người ta biết như một loại nhạc cụ có từ thời cổ đại, được bắt nguồn từ những tiếng kêu của những cây lau, sậy khi gió thổi qua. Chính từ cảm hứng này mà một nhạc cụ âm nhạc diễn tấu được những âm thanh trên của thiên nhiên đã được ra đời. Rất nhiều nước trên thế giới có sử dụng sáo với hình dáng và cấu tạo khác nhau.

Thông thường, sáo được làm bằng ống trúc, tuy nhiên thỉnh thoảng người ta cũng làm sao nhanh bằng kim loại hoặc bằng gỗ, tất cả đều có thể sử dụng được. Trên sáo, người ta đục các lỗ tương ứng với các âm cơ bản và lỗ để người sử dụng thổi tạo âm thanh, ngoài ra, cũng có thể đục thêm lỗ để buộc dây treo hay là đồ trang trí ở phần đầu. Khi biểu diễn, các nghệ sĩ thường sử dụng kĩ thuật đánh lưỡi, nhấn hơi, luyến hơi… để tạo nên những bản nhạc hấp dẫn, lạ tai, độc đáo.

Mỗi quốc gia khác nhau lại có những loại sáo khác nhau làm bằng các chất liệu khác nhau. Dựa theo cách thổi, sáo có thể được phân chia ra làm hai loại chính, đó là sáo ngang hoặc dọc.

Các loại sáo ngang và dọc đều rất phong phú về thể loại và cấu tạo. Nhưng nếu xét về độ phổ biến, sáo ngang sẽ phổ biến hơn sáo dọc. Các loại sáo dọc thường dễ sử dụng vì vị trí dùng để thổi ở phần đầu được thiết kế vát hơn so với thân sáo, người thổi dễ điều khiển hơi hơn, tuy nhiên, loại sáo này thường dễ bị nhầm với tiêu vì cũng cùng cách thức sử dụng.

Sáo thường được làm từ rất nhiều các loại nguyên liệu khác nhau như trúc nứa gỗ, ngoài ra còn có thể làm từ nhựa, kim loại hoặc là xương. Mỗi loại vật liệu sẽ mang đến cho sáo một âm sắc khác nhau. Riêng đối với sáo trúc thì vật liệu dùng để làm sáo sẽ là các loại cây trúc đã già, nhiều năm tuổi, như vậy sẽ giúp cho âm của sáo khi thổi lên sẽ được chắc và làm tăng độ bền cho sáo, tránh mối mọt.

Hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển, giới trẻ càng làm quen hơn với những thiết bị điện tử thì sáo trúc – một loại sáo mang âm hưởng dân gian Việt Nam vẫn không mất đi vị thế. Âm thanh vang lên từ sáo trúc trở thành một điệu ca dân gian của dân tộc, khiến chúng ta trở về với những âm thanh nhẹ nhàng dân dã của đồng quê. Không chỉ vậy, một nét độc đáo trong ứng dụng chính là sáo trúc còn được sử dụng để kết hợp âm thanh với những nhạc cụ hiện đại khác để tạo ra những bản nhạc vừa truyền thống lại vừa mang hơi hướng hiện đại phù hợp với thị hiếu của mình nghe.

Cây sáo trúc tượng trưng cho vẻ đẹp của của quê hương. Trong mỗi khúc nhạc diễn tấu trong lễ hội của dân tộc, không thể thiếu ở hình ảnh những cây sáo trúc. Từ những cây sáo này, những làn điệu dân ca đã được chắp cánh trở nên bay bổng hơn, du dương hơn từ sáo, những chiếc diều cũng trở nên có tâm hồn.

Tuy không phải là một loại nhạc cụ chỉ có duy nhất ở Việt Nam, nhưng chính người sử dụng sáo trúc đã tạo thành những điệu ca mang dấu ấn của nền âm nhạc Việt Nam so với thế giới. Tôi chắc chắn rằng, tương lai có thể có nhiều biến đổi nhưng sáo trúc cùng với những những điệu nhạc được tạo ra từ nó mãi mãi trở thành một nét đẹp văn hóa, nét đẹp trong âm nhạc dân gian của dân tộc.

Bài văn thuyết minh về sáo trúc (bài số 1)

Bài văn thuyết minh về đàn đá

Bài văn thuyết minh về sáo trúc (bài số 1)

Việt Nam là một đất nước được biết đến với nhiều truyền thống văn hóa và phong tục độc đáo. Điều này xuất phát bởi đất nước ta là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em. Trong số các dân tộc Việt, có lẽ các dân tộc ở Tây Nguyên được biết đến với nhiều nhạc cụ và các làn điệu độc đáo nhất. Một trong số nhạc cụ tiêu biểu của các dân tộc khu vực này đó chính là chiếc đàn đá. Nhạc cụ này cùng những điệu ca được tạo ra từ nó đã trở thành làn điệu chính trong các lễ hội ở Tây Nguyên.

Đàn đá ở Việt Nam có tên gọi khác là goong lu, được biết đến là một loại nhạc cụ cổ xưa nhất của nước ta và cũng là nhạc cụ sơ khai nhất của loài người. Đàn đá được phát hiện năm 1949 tại Tây Nguyên và nhạc cụ này sau đó đã được xác nhận có từ thời đồ đá cách đây khoảng 3000 năm.

Đàn có cấu tạo vô cùng đơn giản, đó là được làm từ các thanh đá với kích thước khác nhau. Các loại đá được sử dụng để tạo ra loại đàn này thường sẽ lấy từ vùng núi Nam Trung hay đông nam bộ và thường là đá nham, đá sừng,…. Trải qua quá trình đẽo gọt tỉ mỉ, với sự thẩm âm chính xác, con người đã tạo thành những chiếc đàn đá hoàn chỉnh.

Đàn có nhiều âm vực khác nhau tùy theo kích thước, độ mỏng hay dày của đá. Những âm trầm của đàn được tạo ra bởi những thanh đá to và dài, ngược lại những âm cao của đàn thường sẽ tạo ra bởi những thanh đá mỏng nhỏ và ngắn. Mỗi bộ đàn đá có thể có số lượng thanh khác nhau thường dao động từ khoảng 8 cho tới 15-20 thanh. Tuy nhiên, bộ đàn đá lớn nhất của Việt Nam là bộ đàn đá có số lượng thanh lên tới 100.

Đàn có âm sắc đặc trưng như tiếng và chạm của đá trong thiên nhiên. Đàn đá đá cũng là một nhà cụ được biết đến như một cầu nối giữa cõi âm và cõi dương của con người. Khi đánh đàn mỗi, người nghệ nhân sẽ sử dụng búa nhỏ để gõ vào mỗi thanh đá nhằm tạo ra những âm sắc và phải thật nhanh tay để các âm này được nối với nhau tạo sự liền mạch cho một làn điệu.

Đàn đá ngày nay vẫn được sử dụng trong các hoạt động nghi lễ, hội hè của đồng bào. Tiếng đàn đá tạo cho các nghi thức tế lễ thêm linh thiêng. Tiếng đàn phối tấu cùng các nhạc cụ khác tạo nên những tiết tấu sôi động cho các động tác nhảy múa trong các lễ hội. Trong âm thanh rộn ràng vang vọng của đàn đá, cả buôn làng cùng hòa mình vào những điệu múa tập thể trong các lễ hội lớn như Lễ hội mừng lúa mới, uống rượu cần…..

Giai điệu từ đàn được coi là những giai điệu linh thiên. Những giai điệu dân tộc từ đàn đá sẽ được thể hiện hay, nhất độc đáo nhất khi đó là những giai điệu gắn liền với âm hưởng Tây Nguyên, biểu thị tâm tư tình cảm của con người, đặc biệt gợi lên chút hoang dã và sức sống của người dân Tây Nguyên. Âm thanh của đàn đá khi vang lên vô cùng giản dị thanh thoát, khi ào ào như thác đổ, đôi khi lại trong vắt như tiếng suối chảy, có lúc lại như tiếng gió của đại ngàn khiến con người cảm thấy hòa hợp với thiên nhiên hơn.

Đàn đá cùng những giai điệu mang đậm nét văn hóa dân tộc đã được UNESCO công nhận là các nhạc cụ trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, trở thành một biểu trưng cho đời sống tinh thần và cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên của người dân Tây Nguyên.

Đàn đá không phải chỉ là một nhạc cụ đem lại âm thanh đặc trưng của Tây Nguyên mà còn ẩn chứa trong đó cả giá trị lịch sử văn hóa lâu đời của mảnh đất này. Chính bởi vậy, đàn đá cùng với giá trị của nó cần được bảo tồn gìn giữ và phát huy.

Bài văn thuyết minh về cồng chiêng Tây Nguyên

Bài văn thuyết minh về đàn đá

Nói về Tây Nguyên, chúng ta chợt nghĩ đến một vùng đất đỏ ba-dan rực lên màu lửa với những vườn cà phê trĩu quả, những cánh rừng bạt ngàn màu xanh, là quê hương của nhà rông hùng vĩ, là mảnh đất của những ché rượu cần với những lễ hội mang màu sắc Tây nguyên hoang dã nhưng cũng rất đỗi thanh bình hay đó là những thiên sử thi hùng tráng. Thế nhưng trong chiều sâu văn hóa, chúng ta như lắng nghe được tiếng trầm bổng hào hùng từ ngàn xưa vọng lại của những chiếc cồng chiếc chiêng, mà ta gọi đó là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xê-đăng, Hmông, Cơ-ho, Rơ-măm, Ê-đê… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, loại cực đại từ 90cm đến 120cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.

Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng.Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thanh âm của riêng mình.Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3 âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản. Song, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác. Thành thử trên thực tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa. Điều đó lý giải tại sao âm sắc cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời.Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là phiên bản sau của đàn đá.trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng…

Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên.

Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần.Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao.Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu.

Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất.Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa.

Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời.Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”.

Trên cơ sở đó, cồng chiêng Tây Nguyên ẩn chứa nhiều giá trị sâu sắc, có thể coi là hình ảnh đại diện cho một vùng đất anh hùng, là biểu trưng cho cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và là một màu sắc độc đáo trong bức tranh văn hóa Việt Nam đa đang, đậm đà bản sắc. Giá trị của Cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện qua bản chất nghệ thuật mà nó mang lại.

Cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyên tự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các nơi khác về) được nghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ. Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong không gian.

Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quan tâm điểm của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học). Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.

Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau

Bài văn thuyết minh về đàn bầu (bài số 1)

Bài văn thuyết minh về cồng chiêng Tây Nguyên

Ca dao ta có câu:

“Đàn bầu ai gảy nấy nghe

Làm thân con gái chớ nghe đàn”

Câu ca dao ấy đã phần nào nói lên được những sự quan trọng của đàn bầu. Loại âm nhạc ấy có thể nói là truyền tải được những câu ca dao à ơi. Hay nhà thơ Văn Tiến Lê từng viết:

“Một dây nũng nịu đủ lời

Nửa bầu chứa cả đất trời âm thanh”

Vậy đặc điểm của đàn bầu là gì?, âm thanh của nó như thế nào?

Gắn liền với dòng chảy lịch sử nước Việt, có một dụng cụ âm nhạc đã góp phần làm nên ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa quốc tộc của người Việt, đó chính là Đàn Bầu, một tên gọi rất thuần Việt. Theo địa lý tự nhiên, nước Việt Nam mang dáng hình chữ S mềm mại. Còn theo ngôn ngữ thi thơ nước Việt có hình dáng thon thả như “giọt Đàn Bầu”, một cách ví von hoán dụ trong bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Phạm Minh Tuấn: “Đất nước tôi thon thả giọt Đàn Bầu”

Đàn bầu, tên chữ là độc huyền cầm là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Dựa theo cấu tạo của hộp cộng hưởng, đàn bầu chia hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.

Về cấu tạo thì Đàn bầu thường có hình dạng một ống tròn (bằng tre, bương, luồng) hoặc hình hộp chữ nhật (bằng gỗ); một đầu to, một đầu vuốt nhỏ hơn một chút; thường có chiều dài khoảng 110cm, đường kính hoặc bề ngang ở đầu to khoảng 12,5cm, đầu nhỏ khoảng 9,5cm; cao khoảng 10,5cm.

Ở loại đàn gỗ Mặt đàn và đáy đàn bằng gỗ ngô đồng, hoặc gỗ thông hay gỗ tung. Mặt đàn hơi cong lên một chút, đáy đàn phẳng có một lỗ nhỏ để treo đàn, một hình chữ nhật ở giữa để thoát âm đồng thời cầm đàn khi di chuyển và một khoảng trống để cột dây đàn. Thành đàn bằng gỗ cứng như cẩm lai hoặc mun để cho chắc chắn và có thể bắt vít cho khóa dây đàn.

Trên mặt đầu to có một miếng xương hoặc kim loại nhỏ gọi là ngựa đàn. Qua ngựa đàn, dây đàn được luồn xuống và cột vào trục lên dây đàn xuyên qua thành đàn, trục này được làm đẹp và nó được giấu phía sau thành đàn. Ngày nay người ta dùng khóa dây đàn bằng kim loại cho chắc để chống tuột dây đàn.

Trên mặt đầu nhỏ của đàn có một cần dây làm bằng gỗ hoặc sừng, được gọi là cần đàn hoặc vòi đàn. Cần đàn xuyên qua nửa đầu trái bầu khô hoặc tiện bằng gỗ theo hình dạng tương tự và cắm vào một lỗ trên mặt đầu nhỏ của vỏ đàn. Một đầu dây đàn buộc cố định vào cần đàn khoảng giữa bầu đàn.

Khi công nghệ điện tử ra đời, để tăng âm lượng tiếng đàn, người ta lắp một cuộn cảm ứng điện từ có lõi sắt non vào dưới mặt đàn giáp với dây ở phía đầu to để cảm ứng âm thanh truyền qua bộ dây đồng trục, đưa tín hiệu đến khuếch đại âm thanh qua máy tăng âm. Loại đàn này chỉ có thể dùng dây thép và có nhược điểm là độ méo âm thanh khá lớn so với âm thanh của loại đàn không dùng bộ khuếch đại điện tử (đàn mộc).

Que gảy đàn: thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm… Người ta hay làm bông hoặc tựa đầu nhọn một chút để làm mềm âm thanh khi gảy. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10 cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4,5 cm.

Âm thanh đàn bầu nền nã dịu dàng, nó như gợi lên cái tâm hồn xa xưa của người Việt ta. Âm thanh nó còn rất mềm mại, uyển chuyển nhẹ nhàng. Chính vì thế mà đàn bầu khi được cất lên thường đi liền với những bài ca dao cổ hay chính là những lời mẹ ra.

Qua đây ta thấy được những đặc điểm và âm thanh của đàn bầu. Nó gợi lên những gì xa xưa vô cùng thuần túy nền nã, dịu dàng. Nó độc đáo ở chỗ nó thổi cái hồn của những gì gọi là ngày xưa, những gì là mộc mạc thân thương nhất.

Bài văn thuyết minh về đàn bầu (bài số 1)

Bài văn thuyết minh về đàn nhị

Bài văn thuyết minh về đàn bầu (bài số 1)

Âm nhạc Việt Nam mang tính bản sắc độc đáo không chỉ bởi sự nổi tiếng của những bài ca dao, những điệu “Nam ai Nam bình”, những điệu hát xoan, hát quan họ mà cái độc đáo ấy còn được tạo nên bởi những nhạc cụ mang tính dân tộc. Một trong những nhạc cụ tiêu biểu cho hệ thống nhạc cụ dân tộc Việt Nam phải kể đến đàn nhị.

Đàn nhị là một loại đàn mang tính dân tộc cao, đàn nhị có có từ rất sớm (khoảng từ thế kỉ thứ mười) tồn tại và phát triển đến tận ngày nay. Đàn nhị là loại nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ. Khác với các loại đàn khác như: đàn nguyệt, đàn tranh … có rất nhiều dây thì đàn nhị chỉ có hai dây duy nhất. Cũng có lẽ vì đặc điểm của dây đàn khá đặc biệt mà người ta gọi nó với cái tên là đàn Nhị.

Hình dáng của đàn nhị cũng khá đặc biệt, nó nhỏ và gọn hơn rất nhiều so với các nhạc cụ dân tộc khác. Đàn có hai dây,và khi chơi nhạc thì người ta sẽ dùng một thanh kéo, vừa ma sát với dây đàn, vừa ma sát với nhựa thông được đính ở thân đàn để tạo ra những âm thanh độc đáo.

Đàn thường được những người nghệ sĩ để trên chính đôi chân của mình khi tấu nhạc.Vì vậy khi chơi nhạc thì người nghệ sĩ thường ngồi, có thể là trên một mảnh chiếu, cũng có thể là ngồi trên ghế. Dây kéo của đàn nhị cũng khá đặc biệt, nó được cấu tạo bởi những sợi tơ rất mảnh và mềm mại, sau đó được kết nối với thanh tre mỏng, uốn thành một hình cung mềm mại. Khi dây kéo của đàn nhị được cọ sát với dây đàn để phát ra âm thanh trong tương đối giống thanh kéo của đàn vĩ cầm.

Cách sử dụng đàn nhị cũng khá đơn giản, tuy nhiên đó là đối với những người nghệ sĩ thực thụ, còn đối với những người mới học thì cần phải luyện tập siêng năng thì mới có thể sử dụng được thành thục loại đàn này.

Khi chơi đàn, ta sẽ dùng tay trái giữ dọc nhị và bấm dây đàn bằng lòng ngón tay hoặc đầu ngón tay để tạo ra tiết tấu, nhạc điệu. Tay phải sẽ cầm cung vĩ hay còn gọi là dây kéo đẩy qua lại mới tạo ra âm thanh.

Về tên gọi của đàn nhị cũng khá đa dạng. Ở những nơi,những vùng miền khác nhau thường có tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, người Kinh gọi là “líu” (hay nhị líu để phân biệt với nhị chính), dân tộc Mường thì gọi đàn Nhị là “ cò ke’’, hay như người dân Miền Nam thì lại gọi nó với cái tên “ Đờn cò”.

Tuy nhiên, cái tên được dùng phổ biến nhất, được nhiều người quen gọi nhất thì vẫn là đàn nhị. Kích cỡ và hình dáng của đàn nhị cũng có sự khác nhau, tùy thuộc vào sở thích, nhu cầu cá nhân của người sử dụng đàn. Đàn nhị thường được cấu tạo bởi những bộ phận như sau: Bát nhị (hay còn gọi là ống nhị); dọc nhị (hay còn gọi là cần nhị, cán nhị); trục dây, dây nhị, cử nhị (hay khuyết nhị) ,và cuối cùng là cung vĩ.

Đàn nhị xưa kia được sử dụng phổ biến trong các loại hình âm nhạc dân tộc như: hát Xẩm ( đàn nhị thường giữ vai trò chủ đạo trong việc tạo ra tiết tấu cho những người hát Xẩm), là một trong những nhạc cụ trong nhạc phường bát âm, dàn nhã nhạc hay trong ban nhạc hát chầu văn, tài tử và dàn nhạc tổng hợp.

Ngày nay, trong sự phát triển đa dạng của các thể loại nhạc hiện đại, đàn nhị còn được dùng phối kết hợp với các thể loại như: nhạc pop, nhạc rock… tạo ra những nét độc đáo, cá tính trong âm nhạc.

Đàn bầu là một nhạc cụ phổ biến của dân tộc Việt Nam đặc biệt đối với dân tộc của các cùng núi phía bắc, nó đã trở thành một thể loại âm nhạc phổ biến và trở thành giá trị truyền thống phổ biến của mỗi con người, mỗi chúng ta đều thấy hình ảnh của cây đàn bầu xuất hiện nhiều trong cuộc sống của những người dân vừng đồng bào dân tộc.

Đây là một nhạc cụ được dùng để giải trí và nó đã trở thành một biểu tượng văn hóa truyền thống đẹp của con người Việt Nam. Giá trị của nó để lại cho dân tộc rất nhiều ý nghĩa văn hóa truyền thống tốt đẹp và có giá trị ý nghĩa mạnh mẽ nhất đối với mỗi người.

Trong sự bùng nổ các thể loại, các dụng cụ nhạc hiện đại như ngày nay, đàn nhị không còn được sử dụng rộng rãi như trước nữa, thị hiếu người nghe có phần giảm so với trước đây. Tuy nhiên, dù âm nhạc có phát triển đến đâu, đến mức độ như thế nào thì đàn nhị mãi là một loại nhạc cụ dân tộc mang đầy giá trị, không chỉ trong âm nhạc, mà nó còn là văn hóa, là bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Bài văn thuyết minh về đàn nhị (bài số 2)

Bài văn thuyết minh về đàn nhị

Nước ta không chỉ nổi tiếng về các truyền thống văn hóa mà còn được biết đến là một nước với nhiều loại nhạc cụ dân tộc cùng với nhiều làng truyền thống văn hóa, lưu giữ và truyền đạt lại cho thế hệ sau. Nhờ những nhạc cụ dân tộc như vậy thì mới tạo nên những điệu quan họ, âm nhạc du dương đi vào lòng người.

Có rất nhiều loại nhạc cụ nổi tiếng trong hệ thống các nhạc cụ dân tộc Việt Nam, không thể không nhắc đến đàn nhị. Một loại nhạc cụ mang tính dân tộc sâu sắc, nét văn hóa đậm chất riêng của người Việt không thể lẫn vào đâu được. Nguồn gốc của đàn nhị là có từ rất sớm đã tồn tại và phát triển cho đến tận bây giờ, điều đó thể hiện sự sáng tạo của các nghệ nhân ngày xưa. Với hình dáng đặc biệt nên đàn nhị để lại một ấn tượng mạnh cho từ cái nhìn lần đầu tiên, đọc cái tên lên thôi ta đã có thể hình dung mang máng về chiếc đàn này.

Đây là một loại đàn có thể nói mang một sắc thái dân tộc riêng trong đó, làm nổi bật lên một loại nhạc cụ. Đàn nhị là loại nhạc cụ thuộc bộ dây có cũng vì chỉ có hai dây duy nhất, hình dáng khá đặc biệt, nhỏ gọn hơn so với các nhạc cụ dân tộc khác như đàn nguyệt, đàn tranh,… các đàn này thì thường có nhiều dây.

Một đặc điểm khác nữa là khi sử dụng, người ta sẽ dùng một thanh kéo, vừa ma sát với dây đàn, vừa ma sát với nhựa thông được đính ở thân đàn để tạo ra những âm thanh độc đáo nhất đối với người nghe lần đầu sẽ tạo ra một cảm giác lạ và muốn nghe thêm để hiểu hơn về loại đàn này.

Hình ảnh các thầy lang hay ngồi vỉa hè kéo cây đàn nhị chắc hẳn không còn gì xa lạ đối với mỗi chúng ta, ngày nay thì rất ít họ chỉ kéo đàn khi ngồi rảnh rỗi ở nhà chứ không ra ngoài ngồi kéo như trước. Chính vì vậy mà khi tấu nhạc các nghệ sĩ sẽ đặt đàn trên đôi chân của mình, họ thường ngồi trên chiếc chiếu hay chiếc ghế, khi kéo đàn do các sợi dây mềm mỏng và mảnh mai kết nối với thanh tre mỏng, phát ra một âm thanh ma sát nghe rất cổ điển.

Để chơi được chiếc đàn này người nghệ sĩ phải có sự khổ luyện, chăm chỉ luyện tập thì mới có thể cảm thụ và thành thục chơi loại nhạc cụ này. Khi chơi đàn, người nghệ sĩ sẽ dùng tay trái giữ do nhị và bấm dây đàn bằng lòng ngón tay hoặc đầu ngón tay để tạo ra tiết tấu, nhạc điệu. Tay phải sẽ cầm cung vì hay còn gọi là dây kéo đẩy qua lại mới tạo ra âm thanh mà chúng ta nghe thấy.

Với nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước nên tên gọi của đàn nhị cũng vì thế trở nên đa dạng hơn, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc lại có cách gọi khác nhau. Như người Kinh gọi “líu”, dân tộc Mường gọi là “cò ke”, hay trong miền Nam họ lại gọi đàn nhị là “đàn cò”,… dù có nhiều cách gọi nhưng khi nhắc đến họ vẫn thường hay nói là đàn nhị, đây là cách gọi phổ biến nhất.

Ngày nay khi xã hội đang càng dần phát triển các loại hình nhạc cụ dân tộc đang ngày càng bị lãng quên và không còn phổ biến như trước nữa, vì thế các tiết mục có sự kết hợp giữa hiện đại và dân tộc luôn được đánh giá cao về mặt chuyên môn.

Ngày xưa, đàn nhị sử dụng cho các loại hình âm nhạc dân tộc như hát xẩm, còn bây giờ đàn nhị còn được dùng phối với các thể loại như nhạc pop, rock…. tạo ra những nét độc đáo trong âm nhạc hiện đại, qua đó cho thấy nhạc cụ dân tộc cần được bảo vệ và phát huy, sự đa dạng hóa các loại hình nhạc cụ tạo nên một sự hòa hợp về giai điệu và lời ca.

Chính vì vậy, những nét độc đáo của dân tộc cần được gìn giữ và phát huy, tuy rằng lượng người nghe và học đàn nhị còn lại rất ít, nhưng đây là bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam nên chúng ta cần phát triển rộng rãi, nó không chỉ là âm nhạc mà nó còn là truyền thống văn hóa của đất nước ta.

Bài văn thuyết minh về đàn nhị (bài số 2)

Bài văn thuyết minh về sáo trúc (bài số 2)

Bài văn thuyết minh về đàn nhị (bài số 2)

Cũng là một trong những loại nhạc cụ dân tộc độc đáo của Việt Nam, mang đậm giá trị văn hóa, lịch sử, âm nhạc dân tộc, đó chính là sáo trúc.Sáo trúc được con người sử dụng như một nhạc cụ dùng để giải trí nhưng nó lại mang biểu tượng văn hóa mang ý nghĩa nhất cho giá trị văn hóa dân tộc.

Có lẽ sáo trúc là loại nhạc cụ dân tộc mà ta dễ dàng bắt gặp được hơn trong cuộc sống hàng ngày.So với đàn nhị, đàn tranh, đàn thập lục, đàn bầu…. thì sáo trúc được mọi người biết đến phổ biến hơn, giới trẻ ngày nay cũng nhiều người biết sử dụng, thậm chí đam mê với nó hơn.

Tuổi thơ mỗi người, đặc biệt là những người sinh ra và lớn lên ở những vùng nông thôn thì đặc biệt thân quen với hình ảnh những cô bé, cậu bé ngồi trên lưng trâu và thổi lên những giai điệu vui tươi bằng những cây sáo trúc. Do đó, sáo trúc cũng trở lên vô cùng thân quen, gắn bó với tuổi thơ của mỗi người. Sáo trúc là loại nhạc cụ được cấu tạo bởi một khúc của thân cây trúc, đó là những đoạn trúc dài, thẳng và bên trong có độ rỗng vừa đủ. Đặc biệt,khi làm sáo người ta cũng rất chú ý đến màu sắc, độ dẻo dai, cũng như độ bền của cành trúc.

Ngoài ra, sáo còn được tạo ra bởi những ống nứa, ống rung, thậm chí là làm bằng kim loại hoặc bằng gỗ. Tuy nhiên, sáo trúc vẫn là loại sáo phổ biến và mang đậm màu sắc dân tộc nhất.Âm thanh được phát ra từ những cây sáo trúc cũng đặc biệt hơn, du dương hơn rất nhiều.

Về cấu tạo của sáo trúc thì bao gồm có một lỗ thổi cùng một hàng với sáu lỗ bấm.Ngoài ra, để tăng tính thẩm mỹ và nghệ thuật thì nhiều cây sáo còn có một lỗ phụ ở cuối của thân sáo, lỗ này thường được dùng để buộc những sợ dây trang trí.Khi người nghệ sĩ thổi sáo, họ sẽ thổi bằng luồng hơi đi ra từ bụng, sau đó sẽ dùng những ngón tay nhịp nhàng bấm trên những lỗ của sáo nhằm tạo ra tiết tấu, điều khiển giai điệu theo ý mình.

Sáo cũng có hai loại sáo: đó là loại sáo dùng để thổi ngang và loại sáo dùng để thổi dọc.Nhìn hình dáng bên ngoài thì hai loại sáo này không có mấy điểm khác biệt. Tuy nhiên,về đặc điểm cấu âm bên trong thì lại có sự khác biệt rõ rệt.Sự khác nhau này đòi hỏi người nghệ sĩ có những cách sử dụng cho phù hợp.

Lựa chọn những loại sáo nào, ngang hay dọc đều hoàn toàn phụ thuộc vào sở thích cá nhân của người nghệ sĩ, người chơi nhạc.Hiện nay,sáo trúc cũng được dùng phối hợp với những loại nhạc cụ hiện đại ngày nay để tạo ra những bản nhạc, những tiết tấu vừa mang nét cổ điển mà không kém phần hiện đại, thu hút được thị hiếu của người nghe.

Sáo có nhiều thể loại được làm từ nhiều nguyên liệu khác nhau, nó có thể làm từ tre, lứa, trúc… những nhạc cụ được làm từ những vật dụng mang những ý nghĩa biểu tượng vô cùng mạnh mẽ và sâu sắc nó để cho mỗi người những thú vui riêng. Những âm thanh nó phát ra cũng mang những điều rất tuyệt vời và có giá trị hình ảnh của nó không chỉ đem lại giá trị về âm nhạc dân gian mà đối với thể loại âm nhạc, hội họa nó còn là công cụ quan trọng để chúng ta thổi, lên những làn điệu nhẹ nhàng thu hút mạnh mẽ được sức sống và những điều mong ước của con người.

Khi có được những điều đó cuộc sống của chúng ta sẽ có giá trị và ý nghĩa nhiều hơn, giá trị của nó không chỉ để lại cho dân tộc những làn điệu truyền thống mà trong dân gian, những chiếc sáo đó được sử dụng như những vật dụng quen thuộc của những đứa trẻ.

Xưa trong dân gian những hình ảnh sáo được những người dân vùng miền núi dùng để làm một công cụ thổi cho báo hiệu trâu về chuồng. Nó không chỉ là giá trị văn hóa cho thể loại âm nhạc mà nó để lại những giá trị có ý nghĩa và mang lại được cuộc sống hạnh phúc và lớn lao nhất dành tặng cho mỗi con người.

Những hình ảnh của chiếc sáo sậu đang ngày càng phổ biến và nó đã mang đậm giá trị của dân tộc ta, từ xưa đến nay hình ảnh của nó đem lại không chỉ là hình ảnh của những em bé cưỡi lưng trâu thổi, mà nó trở thành một nhạc cụ của dân gian, của những tập đoàn ca múa nhạc truyền thống. Giá trị của nó không chỉ đem lại cho dân tộc những điều tuyệt vời và giá trị nhất, mà nó còn để lại cho mỗi người những hình ảnh về một đất nước có nhiều truyền thống quý báu của dân tộc.

Có thể nói, trong các loại nhạc cụ dân tộc thì sáo trúc là loại nhạc cụ được giới trẻ yêu thích và theo học nhiều nhất.Như vậy, bản sắc, nét độc đáo của loại hình nhạc cụ này vẫn được duy trì, bảo tồn và phát triển đa dạng trong thời đại ngày nay. Nó không chỉ là một nguồn giải trí hữu ích đem tặng cho con người mà giá trị của nó còn thể hiện cho truyền thống dân tộc.

Bài văn thuyết minh về khèn (bài số 2)

Bài văn thuyết minh về sáo trúc (bài số 2)

Đối với các loại nhạc cụ dân tộc đều mang một ý nghĩa và bản sắc dân tộc riêng tùy vào vùng miền, các bạn dân tộc thường biết đến những chiếc khèn một loại nhạc cụ dân tộc chủ yếu là dân tộc thiểu số, đang dần bị lãng quên.

Có thể đối với một số bạn trẻ ngày nay không biết đến cây khèn, do sự phát triển và bùng nổ nhanh chóng của các loại nhạc cụ phương Tây, cùng với chạy theo xu thế nên giới trẻ chỉ quan tâm đến các loại hiện đại như piano, violong, ghita,… vì những nhạc cụ này được sử dụng rộng rãi và phổ biến, cũng do một phần nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với thế giới, nên ít nhiều cũng bị ảnh hưởng khá nhiều.

Thử hỏi một số bạn trẻ thì gần như họ đều muốn học các loại nhạc cụ hiện đại hơn, cho rằng dễ học và hợp mốt hơn.Nhiều người còn không biết đến những loại nhạc cụ dân tộc, trong đó có khèn, một loại nhạc cụ khá phổ biến có từ rất lâu đời, sử dụng cũng khá nhiều, nhưng theo thời gian nó đang dần bị phai nhòa.

Bài văn thuyết minh về khèn (bài số 1)

Bài văn thuyết minh về khèn (bài số 2)

Giống như quan họ bắc Ninh thì khèn không biết từ bao giờ đã trở thành những quan niệm sống những nền văn hóa và nét tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sống của người Hơ Mông. Chiếc khèn đã trở đi trở lại trên những tác phẩm truyện và thơ như Tây Tiến của Quang Dũng và Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài. Vậy không biết rằng khèn có những đặc điểm vai trò gì đối với đời sống tâm hồn nơi đây.

Khèn có cả truyền thuyết về nó, điều đó chứng tỏ khèn có rất từ lâu đời rồi. truyền thuyết kể lại rằng ngày xưa, một gia đình nọ có sáu anh em, ai cũng hát hay, sáo giỏi. Lúc chưa lập gia đình, tiếng sáo của họ khi thổi cùng nhau lúc vi vút, xào xạc như cây rừng gặp gió, lúc véo von tựa chim trên đỉnh núi cao, lúc lại ào ào như thác đổ. Những dịp hội hè, họ đều đến thổi sáo giúp vui.

Sau này, khi họ đều có gia đình, những lúc không hợp đủ cả sáu người, tiếng sáo trở nên lạc điệu. Họ bèn bàn nhau chế tác ra thứ nhạc cụ hợp nhất nhiều thứ. Người anh cả nghĩ ra cái bầu, anh thứ hai nghĩ ra ống thổi dài, bốn người còn lại nghĩ ra những ống thổi tiếp theo. Tất cả sáu ống, thay cho sáu anh em. Lạ thay, thứ nhạc cụ lạ lùng ấy khi hoàn thiện, thổi lên tạo ra nhiều tầng âm thanh có sức quyến rũ kỳ lạ… Đó là chiếc khèn H’Mông ngày nay.

Khèn ngoài người Hơ Mông ra thì còn có khèn của người Thái, người Lào, người mường…và những loại khèn ứng với những dân tộc ấy mang tên dân tộc ấy. Khèn là loại nhạc cụ thuộc bộ hơi và rất phức tạp, gồm nhiều ống trúc xếp cạnh nhau một đầu cắm xuyên qua bầu gỗ hình bắp chuối làm bầu cộng hưởng. Khèn Hơ Mông có 6 ống, khèn Thái có 12 ống, có khi có đến 14 ống, bó thành hàng…Khèn có thể thổi thành bè, có bè giai điệu và có bè trầm. Thông thường có âm kéo dài và lặp đi lặp lại.

Những chiếc khèn ấy có tác dụng rất lớn trong đời sống tình cảm của người Hơ Mông vì thứ nhất nó chính là những dụng cụ để cho chàng trai Hơ Mông tỏ tình với người con gái Mông. Tiếng khèn không thể thiếu trong những đêm tình mùa xuân, những ngày hội ném pao, ném quay của họ được tổ chức bên cạnh tiếng khèn của họ.

Như vậy qua đây ta thấy được những đặc điểm và nguồn gốc của khèn. Khèn trở thành những âm thanh không thể thiếu trong âm nhạc để làm nền cho những lời tán tỉnh của trai gái yêu nhau. Yêu làm sao khi thấy được những âm thanh ấy.

Bài văn thuyết minh về khèn (bài số 1)

Bài viết chắc chắn đã cung cấp cho bạn rất nhiều thông tin thú vị về một số loại nhạc cụ dân tộc. Qua đó chúng ta càng thêm yêu mến và tự hào về những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của nhân dân ta.

Đăng bởi: Hồng Hạnh

Từ khoá: 10 bài văn thuyết minh về một nhạc cụ dân tộc hay nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Về Nha Trang ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất trên website Ppvf.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!