Xu Hướng 2/2024 # 8 Dàn Ý Bài Văn Thuyết Minh Về Kính Đeo Mắt Chi Tiết Nhất # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 8 Dàn Ý Bài Văn Thuyết Minh Về Kính Đeo Mắt Chi Tiết Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Ppvf.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 8

1. Mở bài:

Chiếc kính đeo mắt là vật dụng quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống hằng ngày. Con người sử dụng kính đeo mắt với nhiều tác dụng khác nhau. nó không những giúp cho con người nhìn rõ hơn mọi vật, bảo vệ đôi mắt mà còn làm đẹp cho hình thức của con người.

– Người ta ghi nhận những hình thức ban đầu của chiếc kính đeo mắt như ngày nay đã xuất hiện từ năm 1260 tại Ý. Sáu năm sau, ông Rodger Becon người Italia đã bắt đầu biết dùng chiếc kính lúp để có thể nhìn rõ hơn các chữ cái trên trang sách. Với vai trò hỗ trợ việc nhìn và đọc của con người, kính đeo mắt sau đó được sử dụng rộng rãi ở châu Âu. Tuy nhiên, lúc đó, kính đeo mắt chỉ là một vật cầm tay và sử dụng khi cần nhìn rõ cái gì đó.

– Phải đến năm 1730, một chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra hai càng (ngày nay gọi là gọng kính) để mắt kính mắc vào mắt một cách chắc chắn. Hình thức kính đeo mắt với hai gọng móc vào tai và hai gọng đè lên mũi ấy được sử dụng cho đến ngày nay.

b. Phân loại kính đeo mắt:

Có rất nhiều loại kính mắt: kính thuốc, kính râm, kính bơi, kính thợ hàn, kính trắng không số, kính thời trang v.v… Ngoài ra còn có một loại kính không cần dùng gọng là kính áp tròng.

c. Cấu tạo của chiếc kính đeo mắt:

Cấu tạo của chiếc kính gồm hai phần: gọng kính và mắt kính. Gọng kính có thể làm bằng chất dẻo hoặc kim loại quý. Mắt kính được làm bằng nhựa hoặc thủy tinh trong suốt (tròng nhựa, tròng kính).

d. Cách sử dụng và bảo quản chiếc kính đeo mắt:

– Khi dùng xong, nhớ lau chùi kính sạch sẽ rồi cho vào bao kính hoặc để trên mặt bàn, trong ngăn tủ, ngăn bàn, tránh các vật nặng đè vỡ hoặc làm trầy xước.

– Ngày nay, ở Viện mắt Trung ương và các thành phố lớn đã chữa được những bệnh về mắt bằng tia la-de, làm cho mắt nhiều người sáng lại bình thường.

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 7

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 8

I. MỞ BÀI

Giới thiệu: Chiếc kính đeo mắt là một vật dụng hết sức cần thiết trong cuộc sống của chúng ta ngày nay.

II. THÂN BÀI

1. Nguồn gốc, xuất xứ

– Chiếc kính mắt đầu tiên ra đời ở Ý vào năm 1920, gồm hai mắt kính nối với nhau bằng một sợi dây để lên mùi.

– Năm 1930, một chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra hai càng (ngày nay gọi là gọng kính) để mắt kính gá vào một cách chắc chắn.

2. Cấu tạo

– Gồm hai bộ phận chính là gọng kính và tròng kính.

– Gọng thường được làm bằng nhựa cứng hoặc dẻo, kim loại.

– Mỗi loại gọng thì có một ưu điểm riêng, gọng kim loại được làm bằng một loại sát, giúp người đeo cảm thấy cứng cáp và chắc chắn.

– Gọng nhựa dẻo và bền thì có thể chịu được áp lực lớn mà không bị cong hoặc biến dạng.

– Một loại gọng được làm bằng ti-tan rất nhẹ, có thể bẻ cong mà không gãy.

– Giá của các loại gọng đó sẽ chênh lệch nhau không ít.

– Phần cuối gọng kính được bẻ cong để người sử dụng có thể gác lên vành tai.

– Dù là nhựa hay kim loại thì tất cả các loại gọng đều có rất nhiều màu sắc và kiểu dáng khác nhau tạo nên những vẻ đẹp riêng cho kính, như màu đỏ, đen. tím, vàng, xanh,… và còn trang trí những hình ảnh, hoa văn ngộ nghĩnh như thơ, mèo,…

– Gọng kính có một khớp động để mở ra và gập lại dễ dàng.

– Tròng kính được làm bằng thủy tinh trong suốt hoặc nhựa cao cấp, ban đầu có hình tròn, vuông và được mài, cắt sao cho vừa khít với gọng mà người dùng lựa chọn. Đối với tròng kính bằng thủy tinh, tuy trong suốt nhưng dễ vỡ. Còn tròng kính bằng nhựa, tuy nhẹ nhưng dễ bị trầy nên cần phải lựa chọn loại kính phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình.

– Tròng kính có các loại chống tia cực tím, loại chống trầy xước là loại có cả hai đặc tính trên.

– Tròng kính được gắn vào gọng nhờ một sợi dày cước trắng và gọng được siết chặt giữa hai tròng kính nhờ lại con đinh vít. Gần hai tròng có hai miếng đệm cao su hoặc nhựa dùng để gác lên hai bên của sống mũi.

3. Phân loại

– Kính đeo mắt thì có nhiều loại: kính thuốc, kính râm, kính thời trang,… tùy mỗi loại sẽ có những công dụng riêng khác nhau.

– Kính thuốc là kính dùng cho những người bị bệnh về mắt như cận thị, loạn thị,…

– Kính thời trang là vật trang điểm, tạo dáng cho mắt và khuôn mặt.

– Kính râm là kính để bảo vệ mắt khi đi ngoài trời.

4. Cách sử dụng và bảo quản

– Lúc sử dụng kính, nên nhẹ nhàng mở bằng hai tay, dùng xong nên lau sạch tròng kính bằng khăn mềm, mịn, cất kính vào hộp, để ở nơi cố định, dễ tìm như trong ngăn tủ, ngăn bàn, mặt bàn,… tránh các vật nặng đè vỡ hoặc làm trầy xước mặt kính.

– Thường xuyên rửa kính bằng nước, lau sạch tròng kính bằng khăn chuyên dùng.

– Để mắt kính không bị biến dạng, khi đeo và tháo kính nên dùng hai tay cầm gọng kính.

– Phải dùng kính đúng độ thì thị lực sẽ không bị tăng cao.

III. KẾT BÀI:

– Giúp ta nhìn sự vật một cách chính xác, tạo điều kiện cho mọi người lao động và học tập tốt hơn.

– Là một người bạn không thể thiếu của chúng ta.

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 7

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 6

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 7

I. Phần mở bài: Giới thiệu đôi nét về chiếc kính đeo mắt

Kính đeo mắt là một trong những phát minh quan trọng của con người, đây là vật dụng không thể thiếu đối với học sinh sinh viên ngày nay. Theo thời gian từ chiếc kính đeo mắt thông thường đã đa dạng hơn về công dụng và kiểu dáng.

II. Phần thân bài

1. Đôi nét nguồn gốc kính đeo mắt

– Chiếc kính mắt có lịch sử lâu đời, kính mắt được ghi nhận lần đầu tiên tại nước Ý vào năm 1260.

– Danh họa nổi tiếng Leonardo da Vinci là người phác họa ra kính áp tròng.

– Vào năm 1887, người thợ Muller làm ra chiếc kính áp tròng đầu tiên trên thế giới.

2. Phân loại

Dựa theo công dụng của từng loại kính mà chia thành nhiều loại khác nhau.

– Kính thuốc: dành cho những ai bị vấn đề về mắt.

– Kính râm: giúp bảo vệ mắt khỏi tác hại từ môi trường.

– Kính cận: dành cho những ai bị vấn đề về mắt.

– Kính thời trang: chủ yếu để làm đẹp, giúp bạn trở nên sang trọng hơn.

Và còn rất nhiều loại mắt kính khác.

3. Cấu tạo kính đeo mắt

– Mắt kính: chủ yếu thường làm bằng thủy tinh hoặc nhựa.

+ Mắt kính làm bằng thủy tinh trong suốt nhưng rơi dễ bị vỡ, phải mua mới.

+ Mắt nhựa gọn nhẹ nhưng cần phải bảo quản cẩn thận nếu không sẽ bị trầy xước.

– Gọng kính: thường làm bằng kim loại, nhựa, ti tan.

+ Gọng kim loại: khi sử dụng sẽ mang lại sự cứng cáp.

+ Gọng nhựa: có thể chịu được áp lực lớn khó bị biến dạng.

+ Gọng làm bằng ti tan: nhẹ, bền nhưng giá thành cao.

Căn cứ vào nhu cầu riêng hãy mua một chiếc kính đeo mắt phù hợp với bản thân.

4. Bảo quản kính đeo mắt

– Không được sử dụng kính đeo mắt tùy tiện mà phải đo mắt, nhất là các bệnh lí về mắt.

– Sau khi sử dụng kính đeo mắt nên dùng vải mềm và nước lau kính chuyên dụng để lau kính.

– Nếu không sử dụng hãy cất kính vào hộp tránh rơi vỡ hoặc bị trầy xước.

– Với gọng kính bằng kim loại nhớ kiểm tra thường xuyên vặn chặt ốc vít.

III. Phần kết bài: Nếu một số cảm nhận về chiếc kính đeo mắt.

Chiếc kính đeo mắt có nhiều công dụng quan trọng với con người giúp bảo vệ đôi mắt cửa sổ của tâm hồn, mang lại vẻ đẹp thời trang và sành điệu. Hãy bảo quản thật tốt để chiếc kính đeo mắt của bạn sử dụng bền và lâu dài theo thời gian.

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 4

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 6

A. Mở bài: Giới thiệu về kính đeo mắt.

B. Thân bài:

Luận điểm 1: Nguồn gốc

– Cuối thế kỷ 12, kính đã xuất hiện ở Trung Quốc và Châu Âu

– Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật nhân loại, kính đeo mắt đã trở thành vật dụng khoa học được sử dụng phổ biến, rộng khắp trên toàn thế giới.

Luận điểm 2: Cấu tạo

– Kính gồm 2 phần chính: tròng kính (mắt kính) và gọng kính (phần khung)

+ Tròng kính (mắt kính): Tròng kính được làm từ chất dẻo cứng (plastic) hoặc từ thủy tinh. Tuy nhiên hiện nay, người ta sử dụng chất dẻo cứng nhiều hơn vì đặc tính của nó tốt hơn thủy tinh. Tròng kính được thêm các đặc tính như: chống xước, chống tia UV bằng cách tráng một lớp hợp chất đặc biệt.

+ Gọng kính (phần khung): Gọng kính được làm từ kim loại chống gỉ hoặc nhựa cứng hoặc dẻo. Gọng kính gồm 2 phần: phần trước dùng để đỡ tròng kính, phần sau được uốn cong dùng để cài làm tai, nâng đỡ toàn bộ kính. Hai phần này được nối với nhau bằng một khớp nối nhỏ, có thể gập ra gập vào. Gọng kính đa phần được làm bằng nhựa vì độ dẻo và bền, chống gỉ.

+ Tròng kính được lắp vào gọng nhờ vào 1 dây cước nhỏ, gọng kính siết chặt tròng bằng ốc vít nhỏ.

+ Gọng kính và tròng kính có nhiều hình dạng phong phú, tùy theo thiết kế: hình tròn, vuông, chữ nhật,…

Luận điểm 3: Phân loại

– Kính đeo mắt gồm các loại chủ yếu: kính thuốc, kính dâm, kính bơi, kính thời trang và một số loại kính chuyên dụng khác (ví dụ như kính cho thợ hàn, kính cho thợ lặn, …)

– Bên cạnh kính đeo mắt thì từ năm 1887, một thợ thủy tinh người Đức đã làm ra chiếc kính áp tròng đầu tiên vừa khít với mắt người. Kính áp tròng là loại kính đeo trực tiếp vào phần con ngươi mà không cần gọng (khung).

Luận điểm 4: Công dụng

– Mỗi loại kính có một công dụng khác nhau, nhưng tựu chung lại kính là vật dụng để bảo vệ mắt khỏi những tác động bên ngoài môi trường.

+ Kính thuốc: dùng cho người mắt các tật khúc xạ về mắt: cận thị, viễn thị, loạn thị… Sự khác nhau cơ bản giữa các loại kính thuốc này là ở độ dày của tròng kính.

+ Kính dâm: dùng để bảo vệ mắt khỏi các tia UV, bụi bẩn,… và giúp nhìn tốt hơn trong ánh sáng ban ngày, đặc biệt khi trời nắng, tránh chói mắt, lóa mắt,…

+ Mỗi loại kính sẽ có một hoặc một vài công dụng đặc biệt chuyên dụng khác nhau.

Luận điểm 5: Cách bảo quản

– Để bảo quản tốt kính đeo mắt khỏi bị vỡ, gãy, xước,… người dùng cần lưu ý một số điều sau:

+ Cất kính vào hộp, đậy kín khi không dùng đến

+ Tránh làm rơi, va đập mạnh khiến kính biến dạng

+ Thường xuyên sử dụng khăn mềm và nước lau kính

+ Đặc biệt với kính thuốc, người dùng cần nghe theo hướng dẫn, chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

C. Kết bài: Khái quát về công dụng và ý nghĩa của chiếc kính đeo mắt trong đời sống

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 5

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 4

I. Mở bài:

– Có thể lựa chọn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo khả năng nhưng cả hai mở bài đều cần phải giới thiệu được yêu cầu đề bài: Thuyết minh về kính đeo mắt.

Ví dụ

Mở bài số 1: Đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn của mỗi người, là cầu nối tâm hồn với vẻ đẹp cuộc sống. Và chiếc kính mắt chính là người bạn ngày ngày gắng sức với công việc của mình, khắc phục căn bệnh của mắt để cánh cửa ấy không bị đóng lại.

Mở bài số 2: Cuộc sống của con người luôn có những vật dụng không thể thiếu được: cái bàn, cái ghế, chiếc gương… Trong đó có chiếc kính đeo mắt, đặc biệt là với những người có các tật về mắt. Khi ấy, chiếc kính trở thành vật bất ly thân, là người bạn gắn bó như “hình với bóng” của họ.

II. Thân bài:

* Nguồn gốc, xuất xứ của chiếc kính đeo mắt

– Cặp kính mắt ra đời từ đâu và trong khoảng thời gian nào cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa thể biết được. Chỉ biết rằng chiếc kính đã có mặt trong đời sống của chúng ta từ rất lâu và trở nên vô cùng cần thiết.

* Hình dáng và các bộ phận của kính

– Gọng kính: Được làm bằng nhựa hoặc một số kim loại chống gỉ khác. Gọng kính làm khung cho chiếc kính đồng thời cũng là bộ phận nâng đỡ mắt kính.

– Mắt kính: Được làm bằng chất dẻo cứng, thủy tinh hoặc mê ca cao cấp chống trầy xước.

* Các loại kính mắt

* Công dụng của chiếc kính

– Chiếc kính nhìn chung có tác dụng bảo vệ con người khỏi những tác nhân gây hại cho mắt như gió, bụi, côn trùng, tia cực tím…

* Cách bảo quản kính

III. Kết bài:

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 5

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 3

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 5

Chiếc mắt kính là phát minh quan trọng của con người, đồ dùng hữu ích với nhiều người.

Từ ban đầu mắt kính được dùng chữa bệnh, đến ngày nay mắt kính sử dụng nhiều công dụng khác nhau.

2. Thân bài:

a. Nguồn gốc:

– Mắt kính ra đời lần đầu tại Ý vào năm 1260.

– Vào năm 1920 phần kính được nối với nhau bằng một sợi dây đặt ngang lên mũi.

– Năm 1930, chuyên gia quang học ở Anh tạo ra gọng kính để lắp hai mắt kính vào hoàn chỉnh.

b. Cấu tạo:

Chiếc kính có hai bộ phận chính: mắt kính và gọng kính.

Mắt kính:

– Thông thường là hình tròn nhưng cũng có các dạng khác như bầu dục, vuông,…

– Chất liệu nhựa chống trầy hoặc thủy tinh ngăn cản các tia cực tím tấn công gây hại mắt.

Gọng kính:

– Nơi lắp mắt kính và giữ mắt kính không bị rơi ra ngoài.

– Gọng kính dùng bằng các chất liệu khác nhau: nhựa, nhôm, vàng,…

Bộ phận khác:

– Mắt kính còn có các bộ phận phụ như: ốc, vít. Các bộ phận này phụ nhưng lại quan trọng trong chiếc mắt kính.

c. Một số loại kính

Dựa theo nhu cầu của con người chiếc mắt kính được chia thành nhiều loại khác nhau:

– Bệnh về mắt như kính cận thị, kính viễn thị, kính loạn thị

– Thời trang: kính râm.

– Vui chơi giải trí có kính bơi, kính trượt tuyết,…

d. Bảo quản

– Gỡ kính dùng hai tay, nếu dùng một tay sẽ gây nên sai lệch gọng kính và tâm mắt kính. Ảnh hưởng tuổi thọ mắt kính.

– Khi dùng xong, dùng vải mềm lau nhẹ và bỏ vào bao kính.

– Tránh cầm tay vào mắt kính bởi khi đó khiến cho mắt kính bị mờ vì dính dầu và mồ hôi. Đôi khi tay còn có bụi có thể gây trầy xước.

– Tránh đặt gần nhiệt độ cao bởi có thể khiến kính bị biến dạng hoặc giảm chức năng của mắt kính đặc biệt là các kính trị bệnh.

3. Kết bài:

– Mắt kính phát minh quan trọng con người phục vụ nhiều trong cuộc sống.

– Mắt kính giúp bảo vệ mắt, cửa sổ tâm hồn.

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 1

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 3

1. Mở bài: Giới thiệu chung về kính đeo mắt (Là vật dụng cần thiết để bảo vệ mắt, làm đẹp, … có nhiều loại kính đeo mắt như: Kính thuốc, kính áp tròng, kính thời trang).

2. Thân bài: (Có thể giới thiệu theo thứ tự: Nguồn gốc, cấu tạo, công dụng, cách bảo quản, …)

– Kính đeo mắt ra đời đầu tiên ở Ý vào năm 1260 nhưng lúc đầu chỉ có giới thầy tu và quý tộc sử dụng nó. Người Pháp và người Anh cho rằng kính đeo mắt chỉ nên đeo ở nhà nhưng người Tây Ba Nha tin rằng kính đeo mắt khiến họ trở nên quan trọng hơn, nhờ vậy kính đeo mắt được nhiều người biết đến và dần dần được phổ biến như ngày nay.

– Kể từ khi ra đời tới giờ kính đeo mắt luôn luôn được cải tiến để phù hợp với người dùng.

– Thiết kế của mắt kính chỉ nối với nhau bởi cầu mũi nên rất bất tiện. Trước đó người Tây Ba Nha đã thử sử dụng dây ruy – băng để buộc mắt kính với hai tai để nó khỏi bị rơi nhưng cái dáng đấy chẳng bao giờ được chấp nhận cả vì trông nó tạm bợ quá. Mãi đến năm 1730 một chuyên gia quang học người Lôn – đôn mới chế ra hai càng để kính có thể gá lên mặt một cách chắc chắn. Ngoài loại kính có gọng đeo người ta còn phát minh ra một loại kính không sử dụng gọng gọi là kính áp tròng.

– Danh họa Leonardo da Vinci đã phác thảo ra chiếc kính áp tròng. Năm 1887 thợ thổi thủy tinh người Đức là Muller đã làm ra chiếc kính áp tròng đầu tiên vừa khít với mắt.

b. Cấu tạo (có thể chia làm 3 bộ phận: Tròng kính, khung kính, gọng kính; có thể trình bày theo thứ tự: Hình dáng, màu sắc, chất liệu (ưu điểm, hạn chế của từng loại chất liệu), công dụng của từng bộ phận):

– Kính đeo mắt gồm 2 bộ phận:

+ Mắt kính

+ Gọng kính

– Mỗi loại gọng lại có một ưu điểm riêng:

+ Gọng kim loại được làm bằng một loại sắt, người đeo cảm thấy cứng cáp và chắc.

+ Gọng nhựa dẻo và bền có thể chịu được áp lức lớn mà không bị cong và biến dạng như gọng kim loại.

+ Có một loại gọng được làm bằng ti tan rất nhẹ có thể bẻ cong mà không gãy.

– Dù là nhựa hay kim loại thì tất cả các loại gọng đều có rất nhiều màu sắc và kiểu dáng để tạo vẻ đẹp riêng cho kính.

– Mắt kính chia làm hai loại: Thủy tinh và nhựa

+ Mắt thủy tinh trong suốt nhưng dễ vỡ

+ Mắt nhựa tuy nhẹ nhưng dễ bị xước

– Chọn lựa kính thì phải phụ thuộc vào yêu cầu sử dụng và phụ thuộc vào khả năng tài chính của mình.

c. Công dụng (theo từng loại kính):

– Kính thuốc là kính dùng cho người có bệnh về mắt;

– Kính lão bảo vệ mắt khi đọc sách hay làm việc lâu bên máy tính;

– Kính dâm là kính bảo vệ mắt khi đi ngoài trời;

– Kính thời trang là vật trang điểm, tạo dáng cho mắt và khuôn mặt;

3. Kết bài: Nêu vai trò của kính trong cuộc sống hiện nay và trong tương lai.

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 1

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 2

Dàn ý bài văn thuyết minh về kính mắt số 1

I. Mở bài: Giới thiệu mắt kính

Ông bà ta thường có câu “đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, chính vì thế mà đôi mắt rất quan trọng của mỗi con người. Để tránh tác hại của môi trường xung quanh ta phải cần một vật dụng bảo vệ, đó là mắt kính. Mắt kính không chỉ để bảo vệ mắt mà còn có nhiều công dụng khác, ta cùng đi tìm hiểu.

1. Nguồn gốc

– Mắt kính ra đời đầu tiên ở Ý và vào năm 1620.

– Qua nhiều năm thì mắt kính được cải tiến và sử dụng rộng rãi

– Năm 1877 chiếc kính áp tròng đầu tiên được ra đời

2 bộ phận:

– Mắt kính: Tùy vào công dụng mà sử dụng các mắt kính khác nhau. Mắt kính được làm từ thủy tinh hoặc nhựa

+ Mắt kính thủy tinh: Mắt kính này trong suốt nhưng có nhược điểm là dễ vỡ

+ Mắt kính nhựa: Mắt kính này có ưu điểm là nhẹ nhưng nhược điểm là dễ xước

– Gọng kính: Gọng kính cũng có 2 loại là gọng nhựa và gọng kim loại

+ Gọng kim loại: Gọng này được làm bằng sắt, đeo cảm thấy cứng cáp và khó chịu

+ Gọng nhựa: Gọng nhựa rất dẻo bền và chịu được áp lực khi bị tác động.

3. Công dụng của mắt kính

– Kính thuốc: Kính dùng cho người có bệnh về mắt như kính cận, kính loạn, kính lão,….

– Kính dâm là kính bảo vệ mắt khi đi ngoài trời

– Kính thời trang là vật trang điểm, tạo dáng cho mắt và khuôn mặt

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về mắt kính

Kính luôn là một vật dụng cần thiết cho con người, là một người bạn thân thiết không thể thiếu của mỗi con người trong cuộc sống hiện đại đầy khói bụi hiện nay.

Đăng bởi: Trương Tân

Từ khoá: 8 dàn ý bài văn thuyết minh về kính đeo mắt chi tiết nhất

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Dinh Độc Lập 2 Dàn Ý & 7 Bài Thuyết Minh Danh Lam Thắng Cảnh

Dinh Độc Lập là một trong những công trình kiến trúc độc đáo, nổi tiếng ở Sài Gòn, xây dựng vào năm 1863. Với 3 tầng chính, khuôn viên rộng 12 ha, diện tích sử dụng là 20.000m2. Vậy mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt môn Văn 8:

1. Mở bài:

Giới thiệu về Dinh Độc Lập.

2. Thân bài:

a) Nguồn gốc:

Thời Pháp thuộc xây dựng năm 1868, có tên Dinh Norodom

Thời Ngô Đình Diệm xây dựng lại năm 1966, mang tên mới là Dinh Độc Lập.

b) Cấu tạo đặc điểm, công dụng

– Kiến trúc bên ngoài: Cây xanh, sân trước. Kiến trúc vòng cung từ cổng vào.

– Kiến trúc bên trong: Hơn 100 phòng, mỗi phòng được xây dựng để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau.

+ Tầng 1:

Phòng họp nội: Trang nghiêm, ghế dựa và bàn hình bầu dục; là nơi diễn ra khánh tiết: Có diện tích lớn, dùng để tiếp khách.

Phòng đại yến: Rộng mở thoáng mát.

+ Tầng 2:

Phòng trình quốc thư: Nơi các đại sứ trình ủy nhiệm thư cho Tổng thống trước năm 1975.

Phong cách Nhật với kỹ thuật sơn mài độc đáo.

+ Tầng 3:

Phòng giải trí và chiếu phim hiện đại.

Có nhiều bàn bi-a, piano.

Khu quầy bar, bàn tròn để trò chuyện.

Rạp chiếu phim có rèm kéo tự động.

Phòng tiếp khách thân mật: Tranh trừu tượng, thiết kế nữ tính.

Thư viện sách giáo dục, xã hội, chính trị, thống kê

Khu tầng thượng là nơi đỗ máy bay, trực thăng.

3. Kết bài:

Cảm nghĩ của em về Dinh Độc Lập.

I. Mở bài:

Giới thiệu đối tượng cần thuyết minh.

II. Thân bài:

* Địa điểm: Sài Gòn

* Thời gian: Dinh Thống Đốc (Dinh Độc Lập) được xây dựng bề thế vào năm 1863.

* Cấu tạo, kiến trúc:

Khuôn viên rộng 12 ha, diện tích sử dụng là 20.000m2, gồm 3 tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng và tầng hầm.

Khoảng 100 phòng

Chính giữa là đài phun nước

Hồ nước hình bán nguyệt

Những bức phù điêu và bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao trọn mặt tiền lầu hai.

Những khuôn viên xanh, có hoa trông như một bức tranh đầy màu sắc rất thu hút khách du lịch.

* Ý nghĩa:

Nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa thiêng liêng.

Là điểm đến thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

III. Kết bài:

Khẳng định vai trò, ý nghĩa của dinh Độc Lập.

Nêu cảm nhận bản thân.

Dinh Độc Lập là một trong những công trình kiến trúc độc đáo, nổi tiếng ở Sài Gòn được xây dựng bề thế vào năm 1863. Năm 2007 dinh Độc Lập được xếp hạng là một trong 10 di tích quốc gia đặc biệt đầu tiên của các nước. Có thể nói, đây là một trong những điểm đến thú vị thu hút nhiều khách du lịch trong thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày đón tiếp nhiều khách du lịch đến thăm quan, đặc biệt đáng trọng hơn cả là đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia, quan chức cấp cao trên thế giới đến để đón tiếp và thăm quan.

Công trình được thiết kế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ-người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đạt giải thưởng Khôi Nguyên La Mã về thể loại kiến trúc. Tất cả những gì tài hoa tinh túy bậc nhất của nghệ thuật kiến trúc cổ đại phương Đông và phương Tây hiện đại đều được kiến tọa một cách tinh tế và chọn lọc ở đây, làm nên vẻ đẹp hài hòa, vừa trang nghiêm, cổ kính vừa hiện đại và văn minh của dinh Độc Lập. Công trình được xây dựng trong khuôn viên rộng 12 ha, diện tích sử dụng là 20.000 m2, gồm 3 tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng và tầng hầm. Dinh có khoảng 100 phòng được trang trí theo phong cách khác nhau tùy vào công năng sử dụng. Phía trước Dinh là những thảm cỏ xanh non hình oval, chính giữa là đài phun nước, tạo nên vẻ đẹp thơ mộng cho khối công trình và màu xanh của cỏ tạo ra một cảm giác sảng khoái êm dịu cho du khách ngay khi bước vào cổng chính. Bước qua thảm cỏ là hồ nước hình bán nguyệt chạy dài theo mặt trước của đại sảnh. Trong hồ được trồng hoa súng, hoa sen gợi nên hình ảnh yên ả, tĩnh lặng như ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.

Mọi thiết kế kiến trúc, các họa tiết và cách bày trí, phối hợp đều mang vẻ đẹp truyền thống đằm thắm, ý nhị và tinh tế rất riêng của văn hóa Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung. Có thể kể đến là những bức phù điêu và bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao trọn mặt tiền lầu hai. Bước vào bên trong, dinh vòn gây choáng ngợp bởi thiết kế hài hào, trang nhã, trong mỗi phòng đều trưng bày các bức tranh vẽ về non sông, đất nước, con người Việt Nam, các bức tranh phù điêu tạc dựng lại những trận đánh hào hùng hoặc những sự kiện lịch sử nổi tiếng của dân tộc.

Đến với dinh Độc Lập là tìm về nguồn cội của thành phố với những bước thăng trầm, Dinh Độc Lập mang dáng dấp của một Bảo Tàng – Chứng Nhân Lịch Sử cực kỳ sống động., có một không hai ở nước ta. Nơi sống dậy niềm tự hào và lòng xúc động thiêng liêng về một thời kì vang bóng hào hùng, vàng son của dân tộc. Có thể nói “Đến Sài Gòn mà bỏ qua Dinh Độc Lập coi như chưa đến Thành phố Hồ Chí Minh”, sẽ thật thiếu sót nếu bạn là công dân Thành phố Hồ Chí Minh mà chưa một lần đến đây. Bao điều kỳ thú, hấp dẫn đang chờ bạn tìm hiểu, để yêu và tự hào thêm Thành phố Hồ Chí Minh, để giới thiệu với bạn bè gần xa.

(Hưởng Triều)​

Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh rất trẻ, nhưng có bề dày lịch sử kỳ lạ, hào hùng. Chỉ hơn 312 năm (tính từ 1698) Thành phố đã có biết bao sự kiện, nhân vật làm nên lịch sử. Con người thì hữu hạn, nhưng có những công trình là chứng nhân suốt mấy trăm năm. Dinh Độc Lập (DĐL) là một trong những công trình đặc trưng như vậy.​

Dinh Thống Đốc (Dinh Độc Lập hiện nay) làm bằng gỗ giữa bạt ngàn cây xanh, được xây dựng bề thế vào năm 1863 (1858 Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng). Năm 1868, chiếm xong Nam Kỳ Lục Tỉnh, Thực dân Pháp cho xây lại Dinh Thống Đốc (theo đồ án tòa thị sảnh Hồng Kông) và đặt tên là Dinh Norodom (Quốc Vương của Cambodia bây giờ – ông nội của Thái Thượng Hoàng Sihanouk của Cambodia hiện nay). Gần như mọi vật liệu xây dựng được chở từ Pháp sang. Từ năm 1887, là Dinh Toàn Quyền Đông Dương. Tháng 3/1945, là nơi làm việc của Phát Xít Nhật tại Việt Nam. 6 tháng sau, người Pháp tái chiếm Nam Bộ. Năm 1954 là cơ quan đầu não của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với tên gọi Dinh Độc Lập là nơi ở và làm việc của Tổng Thống nên có người gọi là “Dinh Tổng Thống” cho đến 30.4.1975. Từ tháng 11.1975 có tên gọi mới là Hội trường Thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh (Dinh Độc lập) – được xếp hạng là Di Tích Quốc Gia đặc biệt.

Công trình hiện nay được khởi công vào năm 1962 theo đồ án thiết kế của Khôi Nguyên La Mã – Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ và hoàn thành năm 1966. Công trình cao 26m, có diện tích xây dựng 4.500m2, diện tích sử dụng 20.000m2 gồm 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và 1 sân thượng làm sân bay trực thăng. Hơn 100 phòng họp – phòng làm việc khác nhau của Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các cộng sự. Riêng phòng Đại Yến có sức chứa trên 500 người, cửa có kính chống đạn dày hơn 2cm. Tổng Hành Dinh ngầm dưới mặt đất là một khối hầm bê tông, bọc thép chịu đựng được bom lớn và đạn pháo, đáp ứng mục tiêu phòng thủ quân sự hiện đại nhất thời bấy giờ. Chi phí xây dựng vào thời điểm đó là 150.000 lượng vàng!

Khuôn viên DĐL rộng 12ha với gần 2.000 cây xanh của 99 loài khác nhau. Nhiều cây cổ thụ trên trăm tuổi; nhiều cây quí như Trắc, Gõ Đỏ, Gõ Mật, Giáng Hương, Cẩm Lai, Sao Đen, Kim Giao… Phía trước là 2 công viên cây xanh. Từ trên máy bay, DĐL là một tổng thể kiến trúc độc đáo; hài hòa, có thể nói là đẹp nhất Việt Nam.​

Các chậu kiểng cổ hơn thế kỷ như Tùng La Hán, Mai Chiếu Thủy, Nguyệt Quới, Thiên Tuế, Sung, Duối, Cằng Thăng, Xương Cá…với nhiều thế uốn kỳ công. Tam Cương Ngũ Thường, Ngũ Phúc, Trực Liên Chi, Quần Thụ, Thất Hiền, Phụ Tử Giao Chi, Mẫu Tử Tương Tùy, Thiết Quan Âm Qua Cầu, Chùa Một Cột…Cả cây xanh và cây kiểng ở DĐL hình như cũng có linh hồn, biết buồn vui cùng thế cuộc?

Tổng thể DĐL hình chữ CÁT: tốt lành, may mắn. Trung tâm là phòng Trình Quốc Thư, Lầu Thượng là Tứ Phương Vô Sự hình chữ KHẨU – đề cao giáo dục, tự do ngôn luận; có cột cờ chính giữa thành chữ TRUNG: trung kiên. Mái hiên lầu Tứ Phương, bao lơn Danh Dự, và mái hiên tiền sảnh hình chữ TAM (): Viết Nhân, Viết Minh, Viết Võ; cộng nét sổ dọc thành chữ VƯƠNG: trên có kỳ đài thành chữ CHỦ: chủ quyền Tổ Quốc. Mặt trước có hình chữ HƯNG: hưng thịnh…Vẫn còn đó hầu như nguyên vẹn nội thất tại nơi ở và làm việc của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa cũ với 4.000 ngọn đèn các loại; hàng chục tác phẩm mỹ thuật quí, thảm, rèm, bàn ghế, vật dụng hạng nhất; những bức tranh sơn dầu, sơn mài kích cỡ lớn, nhiều khi chiếm trọn cả một mảng tường… Đặc biệt là trong phòng Trình Quốc Thư nằm ở vị trí trung tâm lầu nghi lễ tầng 2, các vật dụng từ bàn ghế đến tranh trang trí đều bằng chất liệu sơn mài truyền thống. Xen giữa các đường nét kiến trúc hiện đại bằng bêtông và sắt thép là những môtíp trang trí gợi nhớ các họa tiết cổ truyền trong nhà cửa, đền chùa, cung điện Việt Nam. Từ bức rèm hoa đá đồ sộ ngoài mặt tiền, gồm các tấm lam đứng hình ống trúc nhắc nhở cửa “bàn khoa” cung điện xứ Huế, cho đến những phù điêu, tượng đắp nổi, chạm trổ trên gỗ, thép uốn, tay nắm con triện, tay vịn cầu thang… đều mang dáng Việt. Mọi sự xếp đặt từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới đều tuân thủ nghiêm nhặt triết lý Phương Đông và cá tính của dân tộc, một sự kết hợp hài hòa hiện đại và truyền thống đến mẫu mực.​

Đến với DĐL là tìm về nguồn cội của thành phố với những bước thăng trầm. Nhiều hiện vật quí hiếm cả trăm năm, chứng kiến bao sự kiện lịch sử. Bộ sưu tập cây xanh, cây kiểng và tặng phẩm độc đáo; không gian lý tưởng và tầm vóc kiến trúc đặc sắc…Tất cả tạo nên cho DĐL dáng dấp của một Bảo Tàng – Chứng Nhân Lịch Sử cực kỳ sống động., có một không hai ở nước ta. Nhiều du khách trong nước và quốc tế tới đây đều khẳng định: “Đến Sài Gòn mà bỏ qua Dinh Độc Lập coi như chưa đến Thành phố Hồ Chí Minh”. Sẽ thật thiếu sót nếu bạn là công dân Thành phố Hồ Chí Minh mà chưa một lần đến DĐL – Bảo Tàng – Chứng Nhân Lịch Sử. Bao điều kỳ thú, hấp dẫn đang chờ bạn tìm hiểu, để yêu và tự hào thêm Thành phố Hồ Chí Minh, để giới thiệu với bạn bè gần xa.​

Nếu thủ đô Hà Nội nổi danh Quảng trường Ba Đình lịch sử thì thành phố Hồ Chí Minh lại hấp dẫn du khách thập phương bởi những công trình kiến trúc đặc trưng, di tích, địa danh đã đi vào lịch sử giải phóng dân tộc – Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập là công trình kiến trúc đặc trưng, in đậm dấu ấn thời gian và lịch sử của Hồ Chí Minh.

Dinh Độc Lập hay còn gọi là Dinh Thống Nhất hay hội trường Thống Nhất tọa lạc trên một mảnh đất 15ha, nằm ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Lịch sử ra đời và phát triển của nó gắn với một quá trình dài trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Nó làm bằng gỗ giữa bạt ngàn cây xanh, được xây dựng bề thế vào năm 1863. Đến khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ngày 23 tháng 2 năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863, đặt tên là Dinh Norodom. Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam. Dinh mới được xây dựng theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo. Gần như vật liệu xây dựng được chở từ Pháp sang. Năm 1887 đổi tên Dinh Toàn Quyền Đông Dương. Tháng 3/1945, trở thành nơi làm việc của Phát Xít Nhật tại Việt Nam. 6 tháng sau, người Pháp tái chiếm Nam Bộ. Năm 1954, nơi đây là cơ quan đầu não của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với tên gọi Dinh Độc Lập và là nơi ở, làm việc của Tổng Thống nên có người gọi là “Dinh Tổng Thống” cho đến 30.4.1975. Từ tháng 11.1975 có tên gọi mới là Hội trường Thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh (Dinh Độc lập) – được xếp hạng là Di Tích Quốc Gia đặc biệt.

Hiện nay, công trình Dinh Độc Lập đã khác so với ban đầu. Dinh hiện nay được kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m², gồm 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng bao gồm các phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng thống và của Phó Tổng thống, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến, v.v… chưa kể các phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện, bao lơn, hành lang…

Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây với gần 2000 cây, 99 loài khác nhau. Bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho. Tầng hầm chịu được lực oanh tạc, công kích của bom lớn và pháo đáp ứng mục tiêu phòng thủ quân sự hiện đại nhất thời bấy giờ. Chi phí xây dựng vào thời điểm đó là 150.000 lượng vàng. Mặt trên của Dinh được trang trí cách điệu các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn dầu. Từ trên máy bay nhìn xuống, Dinh Độc Lập là một tổng thể kiến trúc độc đáo; hài hòa, có thể nói là đẹp nhất Việt Nam.

Khi thiết kế Dinh Ðộc lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT, tốt lành, may mắn. Trung tâm là phòng Trình quốc thư; Lầu trên là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM ý chỉ 3 chữ viết: Viết nhân, viết minh, viết võ, một đất nước muốn hưng thịnh thì phải có những con người hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG, trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự có hình chữ HƯNG ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.

Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh lầu 2. Rèm hoa đá được biến cách từ bức cửa bàn khoa của các cung điện Cố đô Huế không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Dinh mà còn có tác dụng lấy ánh sáng mặt trời. Sân trước là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m màu xanh rì. Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.

Những tháng năm lịch sử đã lùi vào quá khứ, nhưng dấu vết của nó vẫn còn mãi với Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập không chỉ là di tích đặc trưng của Sài Gòn mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.

Sài Gòn và hiện nay là thành phố Hồ Chí Minh có bề dày lịch sử hơn 300 năm đã trải qua nhiều thăng trầm, hào hùng cùng đất nước. Dinh Độc Lập là di tích lịch sử quan trọng và có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển của thành phố.

Dinh Độc Lập còn có tên đó là dinh Thống Nhất hay hội trường Thống Nhất,công trình kiến trúc này xây dựng từ thời Pháp và là nơi ở và làm việc của chế độ trước, lưu giữ nhiều kỉ niệm lịch sử quan trọng. Dinh Độc Lập là một trong những công trình kiến trúc độc đáo, nổi tiếng ở Sài Gòn được xây dựng bề thế vào năm 1863. Năm 2007 dinh Độc Lập được xếp hạng là một trong 10 di tích quốc gia đặc biệt đầu tiên của các nước. Có thể nói, đây là một trong những điểm đến thú vị, thu hút nhiều khách du lịch trong thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày đón tiếp nhiều khách du lịch đến thăm quan, đặc biệt đáng trọng hơn cả là đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia, quan chức cấp cao trên thế giới đến để đón tiếp và thăm quan.

Dinh nằm trên khuôn viên rộng khoảng 12ha. Bên trong được chia làm 95 phòng, thiết kế các phòng sẽ đảm nhiệm các chức năng khác nhau, với kiến trúc khác nhau. Khu nhà chính có hình chữ T đây từng là nơi ở và làm việc Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn. Bắt đầu từ năm 1975 cho đến nay thì khu nhà chính sử dụng các phòng, với một số phòng khác thì mở cửa cho du khách tham quan tìm hiểu. Khuôn viên xung quanh còn có nhiều loài cây xanh, cây cổ thụ, cây quý như Trắc, Gõ Đỏ, Gõ Mật, Giáng Hương, Sao Đen, Kim Giao… Phía trước có 2 công viên cây xanh. Quan sát từ trên cao thì Dinh Độc Lập tổng thể kiến trúc độc nhất vô nhị tại Việt Nam.

Nói về lịch sử của mảnh đất Sài Gòn Dinh Độc Lập là minh chứng rõ ràng nhất. Đầu tiên từ khi người Pháp xây dựng và quản lý, tiếp đến là Mỹ với sự can dự vào chiến tranh kéo dài hơn chục năm. Vào ngày 30/4/1975 xe tăng số hiệu 390 tiên phóng húc đổ cổng chính, kết thúc quá trình chiến tranh gian khổ để giành lại độc lập tự do. Đây cũng là nơi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Từ đây non sông thu về một mối.

Đến với dinh Độc Lập là tìm về nguồn cội của thành phố với những bước thăng trầm, Dinh Độc Lập mang dáng dấp của một Bảo Tàng – Chứng Nhân Lịch Sử cực kỳ sống động., có một không hai ở nước ta. Nơi sống dậy niềm tự hào và lòng xúc động thiêng liêng về một thời kỳ vang bóng hào hùng, vàng son của dân tộc. Có thể nói “Đến Sài Gòn mà bỏ qua Dinh Độc Lập coi như chưa đến Thành phố Hồ Chí Minh”, sẽ thật thiếu sót nếu bạn là công dân Thành phố Hồ Chí Minh mà chưa một lần đến đây. Bao điều kỳ thú, hấp dẫn đang chờ bạn tìm hiểu, để yêu và tự hào thêm Thành phố Hồ Chí Minh, để giới thiệu với bạn bè gần xa.

Thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố trẻ và sôi động nhưng cũng không kém phần trầm tĩnh với chiều dài lịch sử và những di tích văn hóa, những công trình đã đi qua bao tháng năm. Dinh độc lập là một công trình như vậy, vừa có những nét hiện đại của khu phồn hoa nhưng cũng đắm mình với những ngày lịch sử của dân tộc.

Dinh Độc Lập, hay còn gọi là dinh Thống Nhất, hội trường Thống Nhất là một công trình kiến trúc lịch sử được xây dựng ở Sài Gòn trong những năm từ 1867 đến 1871 mới được hoàn thành. Trước đây, dinh được dựng bằng gỗ, sau đó được xây dựng lại theo đồ án của kiến trúc sư Hermite.

Công trình kiến trúc này được xây dựng trên một mảnh đất rộng mười hai héc-ta gồm một dinh thự lớn với phòng khách có thể chứa tới tám trăm người và một khuôn viên có nhiều cây xanh và thảm cỏ. Tòa dinh thự chính gồm ba tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng và tầng hầm, trong đó có khoảng một trăm phòng với nhiều phong cách khác nhau dựa theo mục đích sử dụng mà thiết kế như phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của tổng thống, phòng đại yến,… được trang trí bằng nhiều tác phẩm nghệ thuật như tranh sơn mài, sơn dầu,… Dinh thự cao hai mươi sáu mét với hàng rào là hai công viên cây xanh. Là công trình phục vụ cho nhiều quan chức cấp cao và là nơi diễn ra những cuộc họp quan trọng nên dinh thự được trang bị nhiều hệ thống hiện đại như điều hòa không khí, phòng cháy,… Trong khuôn viên dinh thự còn có hồ nước bán nguyệt, chính giữa có đài phun nước.

Vào những năm nước ta diễn ra kháng chiến chống Pháp, Dinh này là của thống đốc Nam Kỳ, sau đó trở thành nơi làm việc của các Toàn quyền Đông Dương. Tháng ba năm 1945, dinh này trở thành nơi làm việc của Nhật do cuộc đảo chính, nhưng đến tháng chín cùng năm, Dinh lại trở về với Pháp và là nơi làm việc của Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Trong suốt quãng thời gian này, dinh có tên là dinh Norodom. Đến năm 1955, Ngô Đình Diệm đổi tên dinh thành dinh Độc Lập, nơi đây thành nơi làm việc của tổng thống và đã chứng kiến nhiều sự kiện chính trị quan trọng của lịch sử đất nước. Ngày hai mươi bảy tháng hai năm 1962, dinh bị ném bom khiến cho toàn bộ cánh trái bị sập hoàn toàn. Không thể khôi phục lại nguyên trạng, Ngô Đình Diệm đã cho xây lại một dinh mới trên nền đất cũ thẻo đồ án của Ngô Viết Thụ. Sau đó, Ngô Đình Diệm bị ám sát, dinh Độc Lập thành nơi ở và làm việc của Nguyễn Văn Thiệu, chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ đấy, Dinh là nơi làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Tại dinh Độc Lập này đã có một sự kiện quan trọng diễn ra, đó là vào ngày ba mươi tháng tư năm 1975, chiếc xe tăng T54B mang số hiệu 843 của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới chỉ huy của Trung úy Bùi Quang Thận đã húc nghiêng cổng phụ của dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng T54 mang số hiệu 390 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy đã húc tung cổng chính để tiến vào dinh. Trung úy Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên trên nóc dinh Độc Lập, kết thúc hai mươi năm chiến tranh Việt Nam, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Sau ngày lịch sử đó, dinh được bảo vệ bởi cơ quan có tên là Hội trường Thống Nhất.

Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn thuần mà dinh Độc Lập còn là một chứng nhân lịch sử đã chứng kiến một sự kiện quan trọng của đất nước, là nơi đầu tiên đánh dấu ngày hai miền Nam Bắc hoàn toàn thống nhất, đất nước lại được toàn vẹn. Bởi ý nghĩa lịch sử quan trọng, dinh Độc Lập đã được xếp vào di tích lịch sử văn hóa quốc gia đặc biệt bên cạnh Hoàng thành Thăng Long Hà Nội, chiến trường Điện Biên Phủ, đền Hùng,… cần được bảo vệ. Ngày nay, dinh còn là nơi thu hút nhiều lượt khách gần xa thăm quan, góp một phần vào ngành du lịch các di tích lịch sử của đất nước. Dinh Độc Lập là nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa thiêng liêng, thể hiện được nét kiến trúc tiêu biểu của Việt Nam những năm thập niên sáu mươi.

Nằm giữa thành phố hiện đại với nhịp sống sôi động, dinh Độc lập vẫn sừng sững với thời gian với những nét cổ xưa mà vẫn hiện đại, là sự hòa trộn của phương Đông và phương Tây. Hơn hết, dinh còn mang trong mình lớp trầm tích lịch sử, là một phần của những năm tháng vàng son.

Thành phố Hồ Chí Minh là đầu cầu kinh tế của nước nhà, luôn tráng lệ và nhộn nhịp cùng sự hối hả. Nằm trong lòng thành phố vẫn hiện hữu những công trình kiến trúc ghi dấu của một thời lịch sử anh hùng, nơi để người ta tưởng nhớ và thêm biết ơn cuộc sống hiện tại. Một trong số các di tích kiến trúc quan trọng đó phải kể đến Dinh Độc Lập, đây là một công trình khác đồ sộ, tọa lạc tại số 106 đường Nguyễn Du thuộc quận Một.

Dinh Độc Lập mang nhiều cái tên, ứng với mỗi tên là một giai thoại lịch sử khác nhau đi kèm. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn đã lên kế hoạch xây dựng Dinh thống đốc Nam Kỳ và tới năm 1868 được hoàn thành và mang tên Dinh Norodom. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Ngô Đình Diệm nhận lại Dinh và đổi tên thành Dinh Độc Lập, cho xây dựng lại một Dinh mới hoành tráng và kiên cố hơn sau sự kiện Dinh bị đánh sập cánh trái. Công trình đã hoàn thành vào mùa thu năm 1966, dưới sự chỉ đạo của kỹ sư Phan Văn Điển.

Dinh Độc Lập được bao quanh bởi những hàng cây xanh mướt. Trước tòa nhà chính là một khoảng sân lớn thiết kế ấn tượng bởi hàng cỏ xanh mướt tạo thành khối tròn, bao quanh là con đường vòng có thể đi từ hai bên khi bước qua cánh cổng Dinh. Với những vật liệu xây dựng chủ yếu trong nước, Dinh là một công trình to lớn do chính người Việt xây dựng, điêu khắc, trang trí, thiết kế bố cục và sắp xếp nội thất. Dinh Độc Lập gồm ba tầng chính. Bước vào tới Dinh, người ta không chỉ ngỡ ngàng vì lối kiến trúc hiện đại mà còn trầm trồ bởi những chi tiết tinh tế của từng căn phòng. Ở tầng một gồm có các phòng: Họp nội, đại yến, khánh tiết. Căn phòng lớn nhất với hai hàng ghế xếp dài đối diện nhau là phòng khánh tiết, phòng được trang trí bởi những hoa văn vô cùng sang trọng phong cách pha trộn giữa Tây Âu và Đông Âu, sử dụng để tiếp khách. Phòng họp đầy ắp những chiếc ghế lưng tựa xung quanh bàn hình bầu dục tạo một không khí trang nghiêm, trên bàn là những chiếc micro đứng. Phòng đại yến và các phòng khác cũng được trang trí rất kỳ công. Điều đặc biệt là dù ở phòng nào thì các kiến trúc sư cũng không quên sự góp mặt của các loại cỏ cây hoa lá, giúp không khí thêm phần mát lành và tạo sức sống cho không gian. Tầng hai là nơi làm việc của các lãnh đạo cấp cao của quốc gia. Các phòng lớn như phòng trình quốc thư nơi các đại sứ tại Sài Gòn trình ủy nhiệm thư cho Tổng thống trước năm 1975. Căn phòng được thiết kế mang đậm phong cách Nhật với kỹ thuật sơn mài độc đáo… Ghế của Tổng thống có tay tựa hình rồng và đặt cao hơn các ghế khác. Đối diện là ghế của thượng khách. Những chiếc ghế còn lại khắc hình “phụng” hoặc chữ “thọ”. Phòng còn lại được đặt ngang nhau trang trí bởi hai tủ sơn mài “mai lan”, “cúc trúc” thực hiện năm 1966. Những căn phòng của tầng hai là phòng làm việc của Tổng thống và phó Tổng thống lúc bấy giờ. Tầng ba được thiết kế có phần phóng khoáng hơn phục vụ cho mục đích giải trí, thư giãn và tích lũy tri thức. Bên ngoài đối diện với phần mặt chính diện của tòa nhà là những bàn bi-a cùng chiếc piano khá lớn. Khu trò chuyện uống nước nằm liền kề với phòng chiếu phim và phòng phu nhân Tổng thống tiếp khách. Ở những năm 60 của thế kỷ XX, sự xuất hiện của phòng chiếu phim là một bước tiến của hiện đại, bên cạnh đó là chiếc rèm kéo màu đỏ tự động. Không gian nơi phòng chiếu phim còn là sân khấu biểu diễn nghệ thuật, văn nghệ. Những bức tranh trừu tượng cũng được đặt tại phòng tiếp khách của phu nhân Tổng thống, điểm nhấn khác biệt ở căn phòng này là những hoa văn mang phần mềm mại và nữ tính hơn những căn phòng khác. Ở bên cạnh đó là thư viện đầy ắp cuốn sách đủ thể loại khác nhau như sách giáo dục, sách chính trị, thống kê,… được xếp gọn vào những chiếc tủ gỗ có mặt kính để bảo quản sách. Khu sân thượng là nơi có khoảng trống lớn hòa với thiên nhiên. Có một chiếc trực thăng vẫn nằm nguyên ở một góc sân thượng hiện nay vẫn còn đó, dưới ánh nắng của Sài Gòn trông thật khác biệt.

Advertisement

Và còn nhiều căn phòng khách tại Dinh Độc Lập chờ đợi được tham quan và chiêm ngưỡng. Những căn hầm bí mật nơi có lắp máy lạnh và quạt thông gió, nơi đặt thiết bị tiên tiến. Những chiếc đèn chùm lung linh hiện lên mặt sàn đá hoa cương bóng loáng. Những thiết kế đặc biệt của từng góc của Dinh Độc Lập vẫn còn giữ nguyên vẹn giá trị cho đến tận ngày nay.

Dinh Độc Lập không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo mà đó còn là một minh chứng, chứng nhân lịch sử. Dinh đã cùng đất nước và nhân dân đi qua biết bao thăng trầm của lịch sử Việt Nam. Chính sự kiên cố của Dinh đã để lại cho con cháu muôn đời những bài học quý giá về tình yêu nước và sự kiên cường trong cuộc sống.

Nhắc đến thủ đô Hà Nội sẽ phải biết đến Quảng trường Ba Đình lịch sử, còn nhắc đến thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải biết đến công trình kiến trúc đặc trưng, di tích, địa danh đi vào lịch sử giải phóng dân tộc như Dinh Độc Lập. Đây chính là công trình kiến trúc đặc trưng và in đậm dấu ấn thời gian, lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dinh Độc Lập, Dinh Thống Nhất hay còn được gọi là hội trường Thống Nhất có vị trí tọa lạc trên một mảnh đất rộng 15 ha và nằm tại trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Gắn với một quá trình dài trong lịch sử đấu tranh của dân tộc chính là lịch sử ra đời và phát triển của Dinh Độc Lập. Nơi đây được xây dựng bằng gỗ giữa bạt ngàn xung quanh là cây xanh vào năm 1863.

Ngày 23 tháng 2 năm 1868 là ngày Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn được khởi công xây dựng thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Lúc này Dinh Độc Lập có tên mới là Dinh Norodom. Dựa vào đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo dinh mới đã được xây dựng lên. Vật liệu hầu như đều được chở từ Pháp sang.

Đến năm 1887 nơi đây được đổi tên thành Dinh Toàn Quyền Đông Dương. Sau đấy vào tháng 3 năm 1945 nơi đây lại trở thành nơi làm việc của Phát Xít Nhật tại Việt Nam.

Những năm kháng chiến qua đi rồi đến năm 1954 nơi đây trở thành cơ quan đầu não của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với tên gọi là Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập ngày nay đã được xếp hạng vào Di tích Quốc gia đặc biệt nhờ vào bề dày lịch sử của nó.

Ngày nay công trình kiến trúc Dinh Độc Lập đã khác xa so với ban đầu. Được kiến trúc sư người Việt thiết kế xây dựng trên diện tích 4.500m2 và diện tích sử dụng lên tới 20.000m2. Gồm có 3 tầng chính, 2 gác lửng, 1 sân thượng, 2 tầng hầm, tầng nền và một sân thượng để máy bay trực thăng đáp xuống.

Trong đó có hơn 100 căn phòng được trang trí theo những phong cách khác nhau tùy vào mục đích sử dụng. Bao gồm các phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng thống và của Phó Tổng thống, phòng khánh tiết, phòng đại yến,… và những phần trang trí bên thềm khi đi vào chánh điện.

Nhìn sơ bộ ta có thể thấy Dinh cao 26m và tọa lạc giữa khuôn viên rộng tới 12 ha với gần 2000 cây, 99 loài khác tại đây. Ngoài ra còn có 2 công viên cây xanh bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh. Dù mang dáng dấp của lịch sử nhưng các hệ thống phụ trợ của Dinh lại hết sức hiện đại.

Được trang bị như điều hòa không khí, nhà kho, thông tin liên lạc, hệ thống phòng cháy. Bên dưới chính là tầng hầm còn có thể trú ẩn với sức chịu đựng lực oanh tạc, công kích của bom và pháo đáp ứng mục tiêu phòng thủ quân sự hiện đại nhất lúc bấy giờ.

Vào thời điểm đó chi phí xây dựng lên tới 150.000 lượng vàng. Từ trên cao nhìn xuống có thể thấy rằng Dinh Độc Lập là một hệ thống tổng thể kiến trúc độc đáo và hài hòa, đẹp nhất Việt Nam.

Nói về ý nghĩa của Dinh Độc Lập thì tổng thể của Dinh là hình chữ Cát, có nghĩa là sự tốt lành và may mắn. Trung tâm Dinh tạo thành hình chữ Khâu, nghĩa là đề cao sự giáo dục, tự do ngôn luận. Cột cờ chính giữa tạo thành chữ Trung, còn có nghĩa là trung kiên.

Các mái hiên xung quanh tạo thành hình chữ Tam: Viết Nhân, Viết Minh, Viết Võ. Sau đấy cộng nét sổ dọc sẽ tạo thành chữ Vương. Bên trên có kỳ đài tạo thành chữ Chủ, nghĩa là chủ quyền tổ quốc.

Mặt trước có hình chữ Hưng trong từ hưng thịnh. Với lối kiến trúc độc đáo và mang đậm đường nét Việt thuần túy, tại nơi đây mọi sự sắp đặt từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới đều tuân thủ nghiêm ngặt những triết lý của người Phương Đông và đậm chất riêng của dân tộc ta.

Dinh Độc Lập chính là một công trình kiến trúc kết hợp hài hòa giữa hiện đại và truyền thống đến mẫu mực, là một minh chứng lịch sử lâu dài cho thế hệ sau.

Dinh Độc Lập được coi như cội nguồn của thành phố Hồ Chí Minh với những bước thăng trầm trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Tại đây có rất nhiều hiện vật quí hiếm có tuổi đời lên tới cả trăm năm, chúng đã chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện lịch sử huy hoàng.

Với dáng dấp của một Bảo Tàng, một chứng nhân lịch sử hết sức sống động bao gồm bộ sưu tập cây kiểng, cây xanh và không gian lý tưởng cùng tầm vóc kiến trúc đặc sắc có một không hai ở nước ta. “Đến Sài Gòn mà bỏ qua Dinh Độc Lập coi như chưa từng đến Sài Gòn” nhiều du khách trong nước và khắp thế giới tới đây khẳng định.

Vào lúc 10 giờ 45 phút, ngày 30/4/1975 xe tăng của quân đội Nhân dân Việt Nam đã húc nghiêng cổng của Dinh Độc Lập để tiến thẳng vào trong, mở đầu cho cuộc chiến dành độc lập của dân ta.

Chưa đầy 1 tiếng đồng hồ sau Trung úy Quân Giải phóng của ta đã hạ lá cờ ngoại lai xuống và kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên. Khoảnh khắc này đánh dấu thời điểm kết thúc 30 năm chiến tranh gian khổ, sự anh dũng hy sinh của đồng bào ta. Bởi vì thế nơi đây nghiễm nhiên trở thành điểm hội tụ của chiến thắng.

Là tượng đài của sự tự do cho dân tộc ta. Dinh Độc Lập trở thành hội trường Thống Nhất vào tháng 11/1975 trong Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc diễn ra tại đây.

Những năm tháng kháng chiến anh dũng của dân tộc ta đã lui về quá khứ, máu xương của đồng bào ta đã đổi lấy được tự do cũng đã mờ. Thế nhưng dấu vết lịch sử vẫn luôn còn mãi với Dinh Độc Lập. Nơi đây không chỉ đơn giản là một di tích mang tính chất lịch sử cho du khách tham quan mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.

Một bằng chứng sống cho sự kháng chiến trường kì và thắng lợi của người dân Việt Nam. Hãy dành một cơ hội để có thể đến đây tham quan, cảm nhận hơi thở lịch sử hùng vĩ của nhân dân ta tại Dinh Độc Lập, một biểu tượng chiến thắng của dân tộc Việt Nam.

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Trò Chơi Dân Gian Ô Ăn Quan 2 Dàn Ý & 8 Bài Thuyết Minh Về Trò Chơi Dân Gian Hay Nhất

Ô ăn quan là trò chơi mang tính trí tuệ cao, luật chơi đơn giản, khâu chuẩn bị nhanh chóng, có thể chơi 2, 3 hoặc 4 người. Trò chơi ô ăn quan vừa tạo nên không khí vui vẻ, rộn ràng, vừa kết nối mọi người với nhau. Mời các em cùng tải miễn phí:

I. Mở bài

Dẫn dắt và giới thiệu đến vấn đề đề bài đưa ra: Thuyết minh về trò chơi dân gian (Ô ăn quan).

Ví dụ:

Mở bài số 1: Tuổi thơ mỗi người ngày xưa ấy hẳn ai cũng gắn liền với một trò chơi khác nhau. Với nhiều người, những trò chơi dân gian lại là nét đẹp trong những ngày tháng thơ bé ấy: nào bịt mắt bắt dê, nào trốn tìm, nào nhảy dây… Có lẽ trong tất cả, không ai là không yêu thích, không ai là chưa từng chơi trò chơi ô ăn quan.

Mở bài số 2: Ngày còn bé, những viên đá, quả bàng, một chút phấn kẻ trên nền đất trắng.. chỉ từ những thứ giản đơn mà đã có thể cùng bạn bè chơi đến vui vẻ. Đặc biệt, chỉ cần chút đá cùng phấn, trò chơi ô ăn quan dân gian đã có thể chơi được rồi.

II. Thân bài

* Nguồn gốc trò chơi (Ô ăn quan)

Không một hay biết chính xác quãng thời gian trò chơi này ra đời là khi nào. Người ta cho rằng nó được lấy cảm hứng từ những cánh đồng lúa nước của đồng bằng dân tộc Kinh tại Việt Nam.

Có một điều chứng minh rằng trò chơi này đã có từ rất lâu chính là những câu chuyện xoay quanh vị trạng nguyên năm 1086 là Mạc Hiển Tích. Rằng ông có một cuốn sách bàn về các phép tính trong trò chơi này và các số ẩn trong trò chơi.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có trưng bày, giới thiệu và hướng dẫn cách chơi trò chơi này.

* Trò chơi được tổ chức như thế nào và ra sao?

– Chuẩn bị: Bao gồm các thứ là bàn chơi, quân chơi, người chơi và sự bố trí quân chơi ra sao.

Bàn chơi: Bàn chơi ô ăn quan là ở trên một mặt phẳng có diện tích rộng để có thể kẻ được đủ số ô cần thiết để chơi. Tuy nhiên các ô không nên quá rộng để có thể cho các quân di chuyển được. Vì điều ấy, bàn chơi này có thể kẻ trên mặt đất, ở trên giấy hay trên gỗ… Bất cứ chỗ nào cũng có thể chơi được cả. Bàn chơi là một hình chữ nhật được chia thành 10 ô vuông, ở 2 hàng, mỗi hàng 5 ô. Ở hai đầu phần chiều rộng sẽ có thêm 2 nửa hình tròn. Các ô vuông sẽ được coi là ô dân và 2 ô bán nguyệt ấy sẽ được coi là ô quan.

Quân chơi: Vật dụng có thể làm quân chơi có thể là đá, sỏi.. miễn sao vừa tay người chơi cầm là được. Đặc biệt, ô quan luôn chỉ có 2 viên, mà 2 viên này lớn hơn hẳn so với các quân chơi trong ô dân. Số dân thì không giới hạn, nhưng thường là 50 và được chia đều ra các ô vuông.

Người chơi: Thường thì sẽ có 2 người chơi ngồi đối diện nhau. Ngoài ra còn có biến thể thành 3 người chơi hoặc 4 người chơi…

– Cách chơi:

Người giành chiến thắng sẽ là người có số dân được quy đổi cùng số dân của mình cộng lại là nhiều nhất.

Đầu tiên người chơi sẽ thoả thuận với nhau xem ai đi trước, thường thì cả hai sẽ oẳn tù tì, ai thắng sẽ được đi trước. Người này sẽ lựa chọn một ô dân bất kỳ của mình, nắm hết số dân trong đó rồi lựa chọn lối đi mà rải từng quân xuống một ô. Cứ 1 viên sẽ đặt trong 1 ô.

Nếu sau khi rải hết mà ô tiếp theo là một ô vuông thì lại tiếp tục như thế theo chiều bản thân đã chọn. Còn nếu rải hết mà tiếp theo là 2 ô trống thì sẽ mất lượt và dành cho người tiếp theo.

Nếu liền sau đó là một ô vuông trống rồi tiếp đến là một ô có quân thì người chơi được lấy hết số quân trong đó và để ra ngoài, khi kết thúc sẽ tính điểm cho mình.

Còn nếu đến lượt đi mà 5 ô của người chơi đối diện mình lại không có bất kỳ một quân nào thì bản thân phải đem quân của mình ra rải mỗi ô 1 quân. Nếu không đủ thì phải vay quân của đối phương rồi sẽ trả lại khi tính điểm.

Trò chơi sẽ dừng lại khi mà ô quan và ô dân không còn quân nào cả. Hoặc ô quan không còn quân nào, ô dân vẫn còn quân thì ô quan ở phía người nào sẽ tính số quân về bên người đó.

* Ý nghĩa của trò chơi là gì?

– Đây là một trò chơi dân gian vô cùng quen thuộc với trẻ em Việt Nam xưa. Là một nét đẹp trong văn hóa dân gian của đất nước ta.

– Không chỉ vậy, ô ăn quan còn đi vào trong văn học, nghệ thuật nữa.

+ Các nhà thơ như Xuân Quỳnh, Lữ Huy Nguyên đã có những bài thơ về trò chơi này như:

(Thời gian trắng – Xuân Quỳnh)

+ Này cũng là đề tài cho cách bức tranh của trẻ thơ hay các họa sĩ như bức tranh lụa “Chơi ô ăn quan” được làm từ lụa năm 1931 của hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh…

III, Kết bài

Khái quát lại và nêu lên suy nghĩ của bản thân, tình cảm của mình với trò chơi dân gian này.

I. Mở bài

Hiện nay, trò chơi hiện đại đang chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của chúng ta.

Tuy vậy, những trò chơi dân gian vẫn song song tồn tại bên các trò chơi hiện đại.

Ô ăn quan là một trò chơi vừa lí thú vừa bổ ích.

II. Thân bài

Xuất xứ trò chơi

Chưa ai khẳng định chắc chắn trò chơi 0 ăn quan có từ bao giờ.

Trò chơi này đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời.

Ô ăn quan là trò chơi đã được phổ biến rộng rãi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có trưng bày trò chơi này.

Chuẩn bị cho trò chơi

Bàn chơi: có thể dùng mặt bằng của sàn nhà, của sân,… kích thước khoảng hơn 1 mét vuông.

Quân chơi: gồm 2 loại quân: quan và dân. Một quân quan được tính bằng 5 quân dân (có nơi tính bằng 10 quân dân). Có thể dùng các viên sỏi (hoặc hạt nhựa tròn hoặc hạt của trái cây,…) để làm quân. Kích cỡ của quân dân to bằng hạt lạc hoặc nhích hơn một chút. Kính cỡ của quân quan to gấp nhiều lần viên quân dân. Nêu chơi hai người thì tất cả cần 2 quân quan và 50 quân dân. Nếu chơi 3 người thì cần tất cả 3 quân quan và 75 quân dân. Nếu chơi 4 người thì cần 4 quân quan và 100 quân dân.(Mỗi người 1 quân quan và 25 quân dân).

Vật dùng để vẽ bàn chơi: phấn, gạch non hoặc chì sáp,…

Cách chơi

* Chơi hai người

Vẽ một hình chữ nhật, chiều rộng khoảng 30 cm, chiều dài khoảng 75 cm. Vẽ một đường thẳng theo chiều dài của hình chữ nhật, chia hình chữ nhật ra hai phần bằng nhau. Võ thêm 4 đường ngang cách đều nhau, tính từ hai cạnh chiều ngang của hình chữ nhật. Ta được hình chữ nhật có 10 ô vuông bằng nhau. Hai đầu hình chữ nhật ta vẽ ô đựng quân quan theo hình cánh cung hoặc nửa vòng tròn.

Hai người ngồi hai bên chiều dài của hình chữ nhật (đối diện nhau). Mỗi ô nhỏ bỏ 5 quân dân. 0 hình cánh cung để quân Viên quân quan đặt phía ô bên tay phải của người chơi.

Để chọn người đi trước thì bốc thăm, oẳn tù tì hoặc phân lượt tùy theo sự thống nhất của người chơi.

Người chơi trước dùng tay bốc hết quân dân trong một ô bất kì ở phía bên mình rồi rải vòng tròn. (Rải quân về phía bên phải hay bên trái đều do người chơi quyết định). Mỗi ô rải một quân, kể cả ô quan.

Quân cuối cùng ở ô nào thì lấy quân ở ô tiếp theo để đi, không được lấy quân ở ô quan. Cho đến lúc quân cuối cùng dừng lại mà cách một ô trống thì người chơi được ăn quân ở ô sát tiếp ô trống đó.

Người chơi lấy hết quân về nhà mình. Nếu quân cuối cùng rơi vào ô sát ô quan thì người chơi phải dừng lại cho đôi phương đi.

Nếu quân cuối cùng rơi vào ô cách ô quan một ô trống (không có quân nào) thì được ăn ô quan (với điều kiện trong ô quan có 5 quân dân trở lên).

Khi trong các ô bên phía mình hết quân, người chơi phải lấy quân đã ăn được rải vào các ô để lấy quân đi (mỗi ô chỉ cần rải 1 quân). Nếu không đủ quân, người chơi phải vay đối phương. Vay đến 15 quân thì phải trả 1 ao (nghĩa là phải trả 1 ô bên mình cho đối phương. Đánh dấu ao bằng hai gạch chéo trong ô. Khi hai bên đi, quân rơi vào ao thì người có ao được lấy quân trong ao của mình về.

Khi cả hai quan bị ăn hết thì cuộc chơi kết thúc. Hai bên thu quân bên ô của mình về. Người có ao được thu quân trong ao của mình. Một quan được tính bằng 10 quân. Cộng tất cả lại, bên nào nhiều quân là bên đó thắng.

* Chơi ba người

Vẽ hình tam giác.

Ô bên phải người chơi chính là ô quan của người đó.

Thứ tự người chơi đi theo chiều kim đồng hồ.

* Chơi 4 người

Vẽ hình vuông.

Ô bên phải người chơi chính là ô quan của người đó.

Thứ tự người chơi đi theo chiều kim đồng hồ.

Luật chơi

Khi chơi, người chơi phải tính toán trước khi bốc quân đi.

Đã đi rồi không được đi lại.

Phải quan sát bạn di để tránh nhầm lẫn.

III. Kết bài

Ô ăn quan là một trò chơi rất thú vị và bổ ích.

Nó tạo không khí hào hứng, sôi nổi, thi đua.

Giúp người chơi luyện tập sự nhanh nhẹn, khéo léo và tính toán giỏi.

Tạo sự gắn bó, đoàn kết.

Ô ăn quan mãi mãi là trò chơi dân gian yêu thích của tuổi học trò

“Cho tôi xin về thời ô ăn quan, rồi cùng chơi chắt rồi cùng chơi quay”. Lời bài hát cất lên lòng tôi lại nhớ về những ngày thơ ấu. Không siêu nhân, không điện tử, mấy đứa nhỏ trong làng kéo nhau ra bàn chơi ô ăn quan.

Mặc dù vậy, nhưng về cách chơi, chúng tôi vô cùng nắm rõ. Đầu tiên đến với khâu chuẩn bị. Trước hết phải chọn nơi để đặt bàn chơi, diện tích không cần quá lớn, chỉ cần đủ cho hai đến ba người chơi. Có thể là một góc nhỏ trong ngõ, hay ở đầu làng, hay trên một bàn đá. Tiếp đó là chuẩn bị một mảnh gạch nhỏ hay một viên phấn để vẽ khung chơi. Khung chơi ở đây hình chữ nhật, dài tầm một mét hoặc hơn tùy thuộc vào người chơi. Sau đó chia hình chữ nhật thành 10 ô bằng nhau. Hai bên cạnh ngắn của hình chữ nhật tạo thành hình bán nguyệt hay hình vòng cung. Sau bước chuẩn bị, ta đi tìm 50 viên sỏi hoặc viên đá hoặc là những miếng nhựa có kích thước đều nhau, chia đều vào 10 ô trong hình chữ nhật gọi là ô dân. Còn hai ô vòng cung kia gọi là ô quan. Đặt vào mỗi bên một viên sỏi to hoặc một viên đá to có kích thước lớn, màu sắc khác nhau để phân biệt.

Sau khi đã chuẩn bị xong xuôi, hai người chơi được chia làm 2 đội: đội A và đội B. Để cho công bằng thì hai bên oẳn tù tì xem bên nào thắng tức là bên đấy được quyền xuất quân trước. Người chơi bên đội A(hoặc đội B)người viên thắng dùng 5 quân trong 10 ô bất kì rải lần lượt vào các ô còn lại xuôi ngược tùy ý bao gồm cả ô quan lớn. Tuy nhiên việc chia vào cả ô quan còn phụ thuộc vào cách chơi ở từng vùng miền. Đến khi 5 viên đá hay sỏi ta đa rải hết ở các ô thì tra có quyền lấy sỏi ở ô tiếp theo để tiếp tục rải. Cho đến khi nào viên sỏi cuối cùng được dùng cách khoảng là một ô trống thì số sỏi ở ô bên cạnh được bỏ ra ngoài và thuộc về người vừa rải chỗ đá hoặc sỏi ấy.

Và đến khi nào viên sỏi cuối cùng dừng lại ở 2 ô trống liên tiếp thì người đó coi như là mất lượt và phải nhường lại để bên B đi quân của mình. Người chơi tiếp theo cùng chơi tương tự như bên A chơi. Và cứ thế hai người đi quân cho đến khi số quân ở từng ô hết. Người nào có số viên đá hay sỏi nhiều hơn thì người đó thắng. Và còn một điều chú ý nữa ở đây đó là 1 quan được quy đổi thành 5 hay 10 dân còn phụ thuộc vào thỏa thuận của người chơi ban đầu.

Mặc dù nghe có vẻ chơi đơn giản nhưng để chiến thắng thì người chơi phải tính toán thật nhanh, đòi hỏi sự nhanh trí, bởi để tính toán cho bước đi tiếp theo sao cho có thể ăn được nhiều quân thì người chơi chỉ có thể suy nghĩ nhiều nhất trong 30 giây.

Như vậy việc chơi trò ô ăn quan không chỉ đem lại niềm vui cho các bạn thiếu nhi, cho những cô cậu học trò sau một giờ học căng thẳng ở trường. Hơn nữa khi chơi trò chơi này, nó sẽ thu hẹp khoảng cách giữa hai người chơi, tạo nên sự gần gũi, gắn kết tình bạn trở nên khăng khít. Rèn luyện cho người chơi kĩ năng tính toán tốt, xử lí tình huống một cách nhanh chóng.

Hơn nữa việc chơi ô ăn quan cũng góp phần bảo vệ một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc. Như vậy, trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, việc gìn giữ và phát triển trò chơi ô ăn quan này càng ngày càng quan trọng và cần được lưu tâm.

Mong rằng trò chơi này sẽ được phổ biến rộng hơn để nhiều bạn trẻ ở mọi lứa tuổi có thể tiếp cận được, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn cũng như phát triển trí óc cho các bạn.

Không ai biết trò chơi ô ăn quan ra đời vào lúc nào, chỉ biết rằng nó đã song hành, gắn liền với tuổi thơ bao thế hệ. Chỉ cần một khoảng sân nhỏ, một mảnh đất trống hay một tờ giấy nhỏ là có thể chơi trò ô ăn quan.

Ô ăn quan là trò chơi ghi dấu nét đẹp văn hóa dân tộc, gắn liền với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của những người nông dân Việt Nam. Ô ăn quan gắn liền với câu chuyện về trạng nguyên Mạc Hiển Tích. Ông đã có một số tác phẩm bàn luận về phép tính trong trò này. Đồng thời, đề cập đến số âm ở những ô trống chưa xuất hiện. Trò chơi này cũng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau ở một số nước trên thế giới. Đặc biệt, nó đã xuất hiện ở châu Phi từ những năm 1580 đến 1150 TCN.

Khác với những trò chơi dân gian khác như kéo co, bịt mắt bắt dê, đánh khăng, đánh chuyền,…, ô ăn quan có số lượng người chơi rất hạn chế, chỉ từ 2 – 4 người. Thông thường, trong khoảng 2 người. Trước khi chơi, người chơi cần lựa chọn một không gian thoải mái, bằng phẳng cùng một vài viên phấn hoặc đồ vật có thể vẽ ô bàn cờ. Người chơi sẽ tiến hành vẽ lên mặt phẳng 1 hình chữ nhật và chia thành 10 ô vuông, mỗi bên có 5 ô đối xứng nhau. Ở hai cạnh ngắn vẽ hình bán nguyệt. Ngoài ra, chúng ta cũng cần chuẩn bị 50 viên sỏi hoặc đồ vật để làm “dân” và “quan”. Quân chơi bao gồm hai loại là quan và dân. Dân được chia đều vào 5 ô vuông, mỗi ô 5 viên đá. Hai ô quan hình bán nguyệt mỗi ô xếp 1 viên đá to.

Mục tiêu của trò chơi là khi kết thúc, ai giành được nhiều đá hơn thì chiến thắng. Tùy vào giao ước giữa người chơi có thể quy đổi 1 quan bằng 5 dân hoặc 1 quan bằng 10 dân. Để bắt đầu, người chơi tiến hành oẳn tù tì. Người nào thắng sẽ được đi trước. Người đi trước sẽ bốc 1 ô bất kì trong 5 ô dân của mình. Mỗi ô rải 1 dân lần lượt theo chiều đi mà mình đã chọn. Khi rải hết viên sỏi mà ô kế tiếp còn sỏi, người chơi lại tiếp tục bốc và đi hết số sỏi ở ô đó. Nếu ô kế tiếp trống 1 ô, người chơi sẽ được ăn ở phía sau ô đó. Sau khi ăn xong sẽ đến lượt đối phương đi. Người còn lại tiếp tục rải sỏi. Nếu quá trình rải gặp 2 ô trống hoặc ô quan thì người đó sẽ bị mất lượt, quyền đi sẽ thuộc về đối phương. Cuộc chơi kết thúc khi toàn bộ dân và quan ở hai ô đều bị ăn hết. Trường hợp ô quan vẫn còn thì luật chơi vẫn tiếp tục. Nếu trường hợp 5 ô vẫn còn thì người chơi phải rải đi tiếp. Khi người chơi đi mà các ô trống đều cách nhau một ô thì người chơi có thể ăn liên hoàn.

Có thể nói, ô ăn quan là trò chơi rèn luyện khả năng quan sát, tính toán rất tốt cho chúng ta. Trò chơi vừa tạo nên bầu không khí vui vẻ, rộn ràng, vừa kết nối mọi người với nhau. Ô ăn quan vì thế trở thành thú tiêu khiển và là trò chơi ưa thích của mọi lứa tuổi, đối tượng. Nó phát huy được trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam.

Bây giờ nhiều trò chơi của con trẻ ngày xưa không còn nữa. Những trò chơi luyện sức khỏe như đánh khăng, luyện khéo tay như đánh bi, đánh đáo, luyện cho đôi mắt tinh nhanh như rải ranh, chuyền chắt, tất cả không còn thấy chơi. Còn cách chơi thì chắc cũng không còn đứa trẻ nào biết. May ra chỉ còn ở một số vùng nông thôn hẻo lánh. Trong các trò chơi đó, có một trò luyện trí bây giờ cũng không còn, đó là trò chơi ô ăn quan đã rất phổ biến ở các vùng nông thôn. Cho đến bây giờ trò chơi ấy cũng chưa thấy một nhà nghiên cứu xã hội học nào bàn đến… May mà trò chơi này được họa sĩ Nguyễn Phan Chánh đưa vào bức tranh lụa nổi tiếng cùng tên nên mọi người còn biết, còn nhớ.

Để chơi trò ô ăn quan, bọn trẻ phải đào trên mặt đất hai hàng lồ song song, mỗi bên 5 lỗ là 5 ô ruộng. Còn hai đầu là hai lồ to là hai ô quan. Số hạt sỏi ô quan là 10, ô ruộng là 5. Để giành quyền đi trước phải oẳn tù tì xem ai thắng. Khi đến lượt, người ta bốc sỏi ở ô nhỏ rải theo vòng thuận chiều kim đồng hồ. Rải hết thì bốc sỏi ở ô tiếp theo. Cho đến khi nào tạo ra được một lồ không có viên nào thì được ăn toàn bộ số quân của ô cách đó. Đứa trẻ nào khôn ngoan biết tính toán chọn ô cất quân mà chén được ô quan đầu tiên là thắng. Bao giờ ô quan cũng có số quân lớn. Lối chơi như thế tưởng như sẽ kéo dài mãi vì để tạo ra được một ô trống trước ô quan không phải chuyện dễ. Vả lại số quân trong tất cả các ô cộng lại là 70, đâu có ít. Vậy mà cũng chỉ vài chục phút, có khi mươi phút đã kết thúc ván chơi nếu biết tính toán chọn ô ruộng để cất quân.

Trong trò chơi này, khi ăn được ô quan kết thúc ván chơi lũ trẻ nào cũng đều thuộc câu: hết quan – tàn dân – thu quân – bán ruộng và bày lại cuộc chơi. Ngẫm lại thấy trò chơi khá giống câu chuyện xã hội. Một xã hội khi quan tan tác thì dân tàn lụi, đó là lúc ngừng cuộc chơi để bày ván khác. Rõ ràng trò chơi ô ăn quan không đơn thuần chỉ là giải trí hoặc rèn luyện cách tính toán mà còn là câu chuyện xã hội, là một lời cảnh báo chứa trong trò chơi mang tính quy luật của mỗi cuộc hành trình.

Không có máy tính, điện thoại thông minh hay những trò chơi lắp ráp cầu kì, trẻ em ngày xưa quen với những thiếu thốn, khó khăn nên những trò chơi cũng đậm chất dân dã. Chỉ cần một khoảng sân nhỏ, đất trống trong vườn, vài ba viên sỏi hay phấn màu là có thể cùng nhau chơi Ô ăn quan. Ô ăn quan là một trò chơi dân gian để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng những ai đã từng là trẻ thơ.

Cách chơi ô ăn quan

Chuẩn bị:

+ Bàn chơi: Bàn chơi ô ăn quan chỉ cần một mặt phẳng tương đối rộng, kích thước mỗi ô dao động sao cho thích hợp chứa quân chơi và di chuyển quân dễ dàng. Vì thế bàn chơi ô ăn quan thường là vỉa hè, sân nhà, nền gạch…Dùng phấn, sỏi, que cây để kẻ ô thành hình chữ nhật, chia hình chữ làm 10 ô nhỏ mỗi hàng 5 ô đối xứng nhau. Hai đầu chữ nhật vẽ thêm hình bán nguyệt. Các ô vuông được gọi là ô dân, còn hai hình bán nguyệt là ô quan.

+ Quân chơi: có hai loại quân là quân dân và quân quan. Với bàn chơi thông thường ta có 2 quân quan và 50 quân dân. Chất liệu quân rất đa dạng, có thể làm từ sỏi,đá, đất, nhựa hoặc hạt cây…miễn sao kích thước phù hợp để cầm nắm, quân quan phải lớn hơn quân dân. Quân quan được đặt trong hai hình bán nguyệt, quân dân được đặt đều trong các ô vuông.

+ Người chơi: thường có hai người chơi, hai người ngồi hai bên ô vuông dài và kiểm soát quyền chơi phía bên mình.

Luật chơi:

+ Người thắng cuộc là người kết thúc cuộc chơi có tổng số quan dân quy đổi nhiều hơn. Thông thường 1 quân quan đồi được 10 hoặc 5 quân dân.

+ Từng người chơi lần lượt di chuyển số quân dân trong ô bất kì, mỗi ô một quân, bắt đầu từ ô gần nhất. Nếu liền sau là ô vuông chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân rải tiếp. Nếu liền sau là ô vuông trống và sau là ô chứa quân thì người chơi sẽ ăn tất cả số quân trong ô. Nếu liền sau là ô quan chứa quân hoặc hai ô trống trở trên thì người chơi bị mất lược. Trong trường hợp 5 ô trống của chơi đều không có quân thì người chơi sẽ lấy quân ăn được của mình rải lên hoặc mượn quân đối phương. Cuộc chơi kết thúc khi toàn bộ dân và quan bị ăn hết.

Ngoài ra ô ăn quan cũng có thể chơi 3 hoặc 4 người, luật chơi giống như cách chơi 2 người nhưng hình vẽ điều chỉnh cho phù hợp. Chơi 3 người các ô nằm trong tam giác đều, 4 người các ô nằm trong hình vuông và có 4 ô quan. Ô ăn quan là bóng hình kỉ niệm của một thời mang cả hương vị quê nhà và niềm vui của tuổi thơ. Trò chơi này còn là hình ảnh thật đời thường trong thơ văn của những nghệ sĩ tài hoa:

(Xuân Quỳnh)

Một trò chơi dễ chơi, mộc mạc lại mang tính trí tuệ như thế lẽ ra phải được coi trọng hơn trong xã hội hiện đại. Rất tiếc khi mà cả người lớn và trẻ em chỉ thích những điều kì diệu trong thế giới ảo của game online thì họ lại bỏ quên những giá trị đẹp đời thường trong đó có trò ô ăn quan.

Ô ăn quan đã có ở Việt Nam từ rất lâu đời, có thể nó được lấy cảm hứng từ những cánh đồng lúa nước ở nơi đây. Những câu chuyện lưu truyền về Mạc Hiển Tích (chưa rõ năm sinh, năm mất), đỗ Trạng nguyên năm 1086 nói rằng ông đã có một tác phẩm bàn về các phép tính trong trò chơi Ô ăn quan và đề cập đến số ẩn (số âm) của ô trống xuất hiện trong khi chơi.

Ô ăn quan đã từng phổ biến ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt nam nhưng những năm gần đây chỉ còn được rất ít trẻ em chơi. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có trưng bày, giới thiệu và hướng dẫn trò chơi này.

Theo các nhà nghiên cứu, ô ăn quan thuộc họ trò chơi mancala, tiếng Ả Rập là manqala hoặc minqala (khi phát âm, trọng âm rơi vào âm tiết đầu ở Syria và âm tiết thứ hai ở Ai Cập) có nguồn gốc từ động từ naqala có nghĩa là di chuyển. Bàn chơi mancala đã hiện diện ở Ai Cập từ thời kỳ Đế chế (khoảng 1580 – 1150 TCN). Tuy nhiên còn một khoảng trống giữa lần xuất hiện này với sự tồn tại của mancala ở Ceylon (Srilanka) những năm đầu Công nguyên và ở Ả Rập trước thời Muhammad. Tuy nhiên có những dấu hiệu để nhận định rằng một số dạng mancala lan truyền từ phía Nam Ả Rập hoặc vùng cực Nam của biển Đỏ qua eo biển Bab El Mandeb sang bờ đối diện thuộc châu Phi rồi từ đó xâm nhập lục địa này. Trong những giai đoạn sau, các tín đồ Hồi giáo đã phổ biến mancala sang những miền đất khác cùng với sự mở rộng của tôn giáo và văn hoá.

Bàn chơi: bàn chơi Ô ăn quan kẻ trên một mặt bằng tương đối phẳng có kích thước linh hoạt miễn là có thể chia ra đủ số ô cần thiết để chứa quân đồng thời không quá lớn để thuận tiện cho việc di chuyển quân, vì thế có thể được tạo ra trên nền đất, vỉa hè, trên miếng gỗ phẳng…. Bàn chơi được kẻ thành một hình chữ nhật rồi chia hình chữ nhật đó thành mười ô vuông, mỗi bên có năm ô đối xứng nhau. Ở hai cạnh ngắn hơn của hình chữ nhật, kẻ hai ô hình bán nguyệt hoặc hình vòng cung hướng ra phía ngoài. Các ô hình vuông gọi là ô dân còn hai ô hình bán nguyệt hoặc vòng cung gọi là ô quan.

Quân chơi: gồm hai loại quan và dân, được làm hoặc thu thập từ nhiều chất liệu có hình thể ổn định, kích thước vừa phải để người chơi có thể cầm, nắm nhiều quân bằng một bàn tay khi chơi và trọng lượng hợp lý để khỏi bị ảnh hưởng của gió. Quan có kích thước lớn hơn dân đáng kể cho dễ phân biệt với nhau. Quân chơi có thể là những viên sỏi, gạch, đá, hạt của một số loại quả… hoặc được sản xuất công nghiệp từ vật liệu cứng mà phổ biến là nhựa. Số lượng quan luôn là 2 còn dân có số lượng tùy theo luật chơi nhưng phổ biến nhất là 50.

Bố trí quân chơi: quan được đặt trong hai ô hình bán nguyệt hoặc cánh cung, mỗi ô một quân, dân được bố trí vào các ô vuông với số quân đều nhau, mỗi ô 5 dân. Trường hợp không muốn hoặc không thể tìm kiếm được quan phù hợp thì có thể thay quan bằng cách đặt số lượng dân quy đổi vào ô quan.

Người chơi: thường gồm hai người chơi, mỗi người ngồi ở phía ngoài cạnh dài hơn của hình chữ nhật và những ô vuông bên nào thuộc quyền kiểm soát của người chơi ngồi bên đó.

Mục tiêu cần đạt được để giành chiến thắng: người thắng cuộc trong trò chơi này là người mà khi cuộc chơi kết thúc có tổng số dân quy đổi nhiều hơn. Tùy theo luật chơi từng địa phương hoặc thỏa thuận giữa hai người chơi nhưng phổ biến là 1 quan được quy đổi bằng 10 dân hoặc 5 dân.

Di chuyển quân: từng người chơi khi đến lượt của mình sẽ di chuyển dân theo phương án để có thể ăn được càng nhiều dân và quan hơn đối phương càng tốt. Người thực hiện lượt đi đầu tiên thường được xác định bằng cách oẳn tù tì hay thỏa thuận. Khi đến lượt, người chơi sẽ dùng tất cả số quân trong một ô có quân bất kỳ do người đó chọn trong số 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của mình để lần lượt rải vào các ô, mỗi ô 1 quân, bắt đầu từ ô gần nhất và có thể rải ngược hay xuôi chiều kim đồng hồ tùy ý. Khi rải hết quân cuối cùng, tùy tình huống mà người chơi sẽ phải xử lý tiếp như sau:

Nếu liền sau đó là một ô vuông có chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân đó để rải tiếp theo chiều đã chọn.

Nếu liền sau đó là một ô trống (không phân biệt ô quan hay ô dân) rồi đến một ô có chứa quân thì người chơi sẽ được ăn tất cả số quân trong ô đó. Số quân bị ăn sẽ được loại ra khỏi bàn chơi để người chơi tính điểm khi kết thúc. Nếu liền sau ô có quân đã bị ăn lại là một ô trống rồi đến một ô có quân nữa thì người chơi có quyền ăn tiếp cả quân ở ô này … Do đó trong cuộc chơi có thể có phương án rải quân làm cho người chơi ăn hết toàn bộ số quân trên bàn chơi chỉ trong một lượt đi của mình. Trường hợp liền sau ô đã bị ăn lại là một ô vuông chứa quân thì người chơi lại tiếp tục được dùng số quân đó để rải. Một ô có nhiều dân thường được trẻ em gọi là ô nhà giàu, rất nhiều dân thì gọi là giàu sụ. Người chơi có thể bằng kinh nghiệm hoặc tính toán phương án nhằm nuôi ô nhà giàu rồi mới ăn để được nhiều điểm và có cảm giác thích thú.

Nếu liền sau đó là ô quan có chứa quân hoặc 2 ô trống trở lên thì người chơi bị mất lượt và quyền đi tiếp thuộc về đối phương.

Trường hợp đến lượt đi nhưng cả 5 ô vuông thuộc quyền kiểm soát của người chơi đều không có dân thì người đó sẽ phải dùng 5 dân đã ăn được của mình để đặt vào mỗi ô 1 dân để có thể thực hiện việc di chuyển quân. Nếu người chơi không đủ 5 dân thì phải vay của đối phương và trả lại khi tính điểm.

Cuộc chơi sẽ kết thúc khi toàn bộ dân và quan ở hai ô quan đã bị ăn hết. Trường hợp hai ô quan đã bị ăn hết nhưng vẫn còn dân thì quân trong những hình vuông phía bên nào coi như thuộc về người chơi bên ấy; tình huống này được gọi là hết quan, tàn dân, thu quân, kéo về hay hết quan, tàn dân, thu quân, bán ruộng. Ô quan có ít dân (có số dân nhỏ hơn 5 phổ biến được coi là ít) gọi là quan non và để cuộc chơi không bị kết thúc sớm cho tăng phần thú vị, luật chơi có thể quy định không được ăn quan non, nếu rơi vào tình huống đó sẽ bị mất lượt.

Ô ăn quan thú vị, dễ chơi đã từng là trò chơi hàng ngày của trẻ em Việt Nam. Chỉ với một khoảng sân nho nhỏ và những viên sỏi, gạch, đá là các em nhỏ đã có thể vui chơi. Có thể thấy dấu ấn của Ô ăn quan trong đời sống và văn học, nghệ thuật:

Thành ngữ: Một đập ăn quan – hàm ý chỉ những hành động đơn giản nhưng tức thì đạt kết quả to lớn.

Trích bài thơ “Chơi Ô ăn quan” của Lữ Huy Nguyên:

Trích bài thơ “Thời gian trắng” của Xuân Quỳnh:

Từ ngàn năm nay, nền văn học dân gian đã thấm nhuần trong đời sống của nhân dân ta, ngay đến những trò chơi dân gian cũng được phổ biến rộng rãi và quen thuộc, nhất là ở những vùng nông thôn. Một trong những trò chơi như vậy là trò chơi dân gian ô ăn quan.

Không biết đã xuất hiện từ bao giờ nhưng ô ăn quan từ lâu đã trở thành một trò chơi phổ biến của người Kinh và đặc biệt là với những bé gái. Đây không đơn thuần là một trò chơi để giải trí mà còn là một trò chơi mang tính chiến thuật cao. Có nhiều người cho rằng trò chơi này xuất phát từ bàn cờ mancala ở Ả Rập (khoảng 1580 – 1150 TCN) và được lan truyền đi rất nhiều nơi và đến với nước ta.

Để chơi trò chơi này, cần chuẩn bị một số điều như sau:“Quan” và “dân” tên gọi của hai loại quân chơi, cần dùng một vật liệu có hình thể ổn định, kích thước vừa phải để người chơi có thể cầm, nắm nhiều quân bằng một bàn tay khi chơi và trọng lượng hợp lý để khỏi bị ảnh hưởng của gió, đó có thể là những viên sỏi, gạch nhỏ, hạt quả, mẩu gỗ,…. Quân “quan” cần có kích thước lớn hơn hoặc hình dạng khác quân “dân” để dễ phân biệt với nhau. Số lượng quan luôn là hai còn dân có số lượng tùy theo luật chơi nhưng phổ biến nhất là năm mươi. Sau khi đã có quân chơi, cần bố trí chúng: quan được đặt trong hai ô hình bán nguyệt hoặc cánh cung, mỗi ô là một quân, dân được bố trí vào các ô vuông với số quân đều nhau, mỗi ô là năm dân. Khi chơi trò này, thường gồm hai người chơi, mỗi người ngồi ở phía ngoài cạnh dài hơn của hình chữ nhật và những ô vuông bên nào thuộc quyền kiểm soát của người chơi ngồi bên đó. Mục tiêu cần đạt được để giành chiến thắng đó là người thắng cuộc trong trò chơi này là người mà khi cuộc chơi kết thúc có tổng số dân quy đổi nhiều hơn.

Advertisement

Cách chơi cũng rất đơn giản chỉ là di chuyển quân, từng người chơi khi đến lượt của mình sẽ di chuyển dân theo những cách để có thể ăn được càng nhiều dân và quan hơn đối phương thì càng tốt. Khi đến lượt, người chơi sẽ dùng tất cả số quân trong một ô có quân bất kỳ do người đó chọn trong số năm ô vuông thuộc quyền kiểm soát của mình để lần lượt rải vào các ô, mỗi ô 1 quân, bắt đầu từ ô gần nhất và có thể rải ngược hay xuôi chiều kim đồng hồ tùy ý. Khi rải hết quân cuối cùng, tùy tình huống mà người chơi sẽ phải xử lý tiếp như sau:

Nếu liền sau đó là một ô vuông có chứa quân thì tiếp tục dùng tất cả số quân đó để rải tiếp theo chiều đã chọn.

Nếu liền sau đó là một ô trống rồi đến một ô có chứa quân thì người chơi sẽ được ăn tất cả số quân trong ô đó. Số quân bị ăn sẽ được loại ra khỏi bàn chơi để người chơi tính điểm khi kết thúc. Nếu liền sau ô có quân đã bị ăn lại là một ô trống rồi đến một ô có quân nữa thì người chơi có quyền ăn tiếp cả quân ở ô này. Nếu liền sau đó là ô quan có chứa quân hoặc hai ô trống trở lên hoặc sau khi vừa ăn thì người chơi bị mất lượt và quyền đi tiếp thuộc về đối phương.

Trường hợp đến lượt đi nhưng cả năm ô vuông thuộc quyền kiểm soát của người chơi đều không có dân thì người đó sẽ phải dùng năm dân đã ăn được của mình để đặt vào mỗi ô một dân để có thể thực hiện việc di chuyển quân. Nếu người chơi không đủ năm dân thì có thể vay của đối phương và trả lại khi tính điểm.

Cuộc chơi sẽ kết thúc khi toàn bộ dân và quan ở hai ô quan đã bị ăn hết. Trường hợp hai ô quan đã bị ăn hết nhưng vẫn còn dân thì quân trong những hình vuông phía bên nào coi như thuộc về người chơi bên ấy. Ô quan có ít dân (nhỏ hơn năm dân) gọi là quan non và để cuộc chơi không bị kết thúc sớm cho tăng phần thú vị, luật chơi có thể quy định không được ăn quan non, nếu rơi vào tình huống đó sẽ bị mất lượt.

Trò chơi này rất hay và có những chiến thuật đòi hỏi như một bàn cờ thực sự và chỉ cần một khoảng sân nhỏ các bé gái có thể chơi trò chơi này một cách thoải mái, vì phổ biến và thú vị như vậy nên trò chơi này có rất nhiều bài đồng dao đi kèm, một trong số đó là:

Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển và hiện đại, nhiều công cụ giải trí khác ra đời, những trò chơi dân gian như ô ăn quan cũng không còn được nhiều người chơi nhưng nó vẫn sẽ không bao giờ biến mất trong bản sắc văn hóa Việt.

Bài đồng dao thơ ấu quen thuộc dường như đã nằm gọn trong tiềm thức chúng ta khi nhớ về trò chơi “Ô ăn quan”. Không khó để bắt gặp những đám trẻ đang tụm năm tụm bảy chăm chú hồi hộp “đi quân” bằng cách thả những viên đá, sỏi vào ô quan vẽ trên đất ở các miền quê, hay tiến bộ hơn là các ô quan màu sắc in sẵn trên giấy và hạt nhựa đối với thành thị. Ô quan đã đi xuyên qua quá khứ bụi bặm của mình, để chuyển mình từ một trò chơi dân gian cho trẻ em chân đất ao bùn thôn quê, thành một thú vui vừa mang tính giải trí lẫn giáo dục cho trẻ em thời hiện đại.

Đầu tiên, vẽ một hình chữ nhật được chia đôi theo chiều dài và ngăn thành 5 hàng dọc cách khoảng đều nhau, ta có được 10 ô vuông nhỏ. Hai đầu hình chữ nhật được vẽ thành 2 hình vòng cung, đó là 2 ô quan lớn đặc trưng cho mỗi bên, đặt vào đó một viên sỏi lớn có hình thể và màu sắc khác nhau để dễ phân biệt hai bên, mỗi ô vuông được đặt 5 viên sỏi nhỏ, mỗi bên có 5 ô.

Hai người hai bên, người thứ nhất đi quan với nắm sỏi trong ô vuông nhỏ tùy vào người chơi chọn ô, sỏi được rải đều chung quanh từng viên một trong những ô vuông cả phần của ô quan lớn, khi đến hòn sỏi cuối cùng ta vẫn bắt lấy ô bên cạnh và cứ thế tiếp tục đi quan (bỏ những viên sỏi nhỏ vào từng ô liên tục). Cho đến lúc nào viên sỏi cuối cùng được dừng cách khoảng là một ô trống, như thế là ta chặp ô trống bắt lấy phần sỏi trong ô bên cạnh để nhặt ra ngoài. Vậy là những viên sỏi đó đã thuộc về người chơi, và người đối diện mới được bắt đầu.

Đến lượt đối phương đi quan cũng như người đầu tiên, cả hai thay phiên nhau đi quan cho đến khi nào nhặt được phần ô quan lớn và lấy được hết phần của đối phương. Như thế người đối diện đã thua hết quan. Hết quan tàn dân, thu quân kéo về. Hết ván, bày lại như cũ, ai thiếu phải vay của bên kia. Tính thắng thua theo nợ các viên sỏi. Quan ăn 10 viên sỏi. Cách chơi ô ăn quan được nói lên rất đơn giản nhưng người chơi ô ăn quan đã giỏi thì việc tính toán rất tài tình mà người đối diện phải thua cuộc vì không còn quan (sỏi) bên phần mình để tiếp tục cuộc chơi…

Ô ăn quan là bóng hình kỉ niệm của một thời mang cả hương vị quê nhà và niềm vui của tuổi thơ. Chỉ cần một khoảng sân nhỏ, đất trống trong vườn, vài ba viên sỏi hay phấn màu là có thể cùng nhau chơi ô ăn quan. Ô ăn quan là một trò chơi dân gian để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng những ai đã từng là trẻ thơ. Trò chơi này còn là hình ảnh thật đời thường trong thơ văn của những nghệ sĩ tài hoa:

(Xuân Quỳnh)

Một trò chơi dễ chơi, mộc mạc lại mang tính trí tuệ như thế lẽ ra phải được coi trọng hơn trong xã hội hiện đại. Hơn nữa việc chơi ô ăn quan cũng góp phần bảo vệ một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc. Như vậy, trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, việc gìn giữ và phát triển trò chơi ô ăn quan này càng ngày càng quan trọng và cần được lưu tâm. Rất tiếc khi mà cả người lớn và trẻ em chỉ thích những điều kì diệu trong thế giới ảo của game online thì họ lại bỏ quên những giá trị đẹp đời thường trong đó có trò ô ăn quan.

Ngày nay, khi hỏi mỗi đứa trẻ về những trò chơi dân gian như ô ăn quan hay rồng rắn lên mây, có thể chúng ta chỉ nhận được ít ỏi những câu trả lời “Em có biết”, nhưng ngược dòng lịch sử quay trở về với trẻ em thời trước thì ô ăn quan là một trong số các trò chơi dân gian lành mạnh và được ưa thích nhiều nhất.

Ô ăn quan là một trò chơi dân gian của trẻ em miền Bắc Việt Nam. Nguồn gốc hình thành của trò chơi này chưa được tìm hiểu chính xác, chỉ biết rằng ô ăn quan có ở Việt Nam từ rất lâu đời. Theo những câu chuyện lưu truyền lại thì ô ăn quan có dấu tích ngay từ trong một tác phẩm bàn luận về phép tính của Mạc Diên Tích, một Trạng Nguyên năm 1086.

Đây là một trò chơi thiên về tính toán nên đòi hỏi ở người chơi khả năng trí tuệ cao hơn, thay vì sức lực như những trò chơi khác. Trò chơi gồm một bàn kẻ trên một mặt phẳng tương đối. Bàn chơi thông thường có hình chữ nhật với 10 ô vuông đối xứng nhau (được gọi là ô dân), hai đầu hình chữ nhật sẽ có hai vòng cung lớn được gọi là ô quan. Quân chơi thường sẽ là những viên sỏi hay đá có kích thước nhỏ đối với ô dân và có kích thước lớn đối với ô quan. Ở mỗi ô dân sẽ đặt 5 quân, tổng cộng cho cả trò chơi là 50 quân. Còn đối với những ô hình bán nguyệt thì có có hai quân lớn.

Trò chơi này sẽ gồm hai người chơi, hai người này sẽ lần lượt cầm quân tại một ô quân bên mình và đi rải lần lượt vào các ô quân khác theo chiều tự chọn, qua mỗi một ô vuông sẽ để lại một quân. Nếu như hết quá trình rải mà quân cuối cùng rơi vào ô quân mà ô ngay đằng sau ô đó trống thì người chơi sẽ ăn được toàn bộ quân tại ô đằng sau nữa. Người chơi sẽ cố gắng di chuyển quân sao cho ăn được càng nhiều dân và nhiều quan càng tốt. Và nếu như ăn được quan thì số điểm mà mỗi người chơi có là 10 điểm (mối dân chỉ có 1 điểm). Sau khi cho kết thúc, nếu điểm của người nào cao hơn thì người đó sẽ là người chiến thắng

Mặc dù nói đây là một trò chơi dân gian thường dành cho trẻ em nhưng tất cả những người có mong muốn và yêu thích trò chơi này đều có thể chơi. Số lượng thông thường của trò chơi này là hai. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp số lượng người chơi sẽ lên đến ba hoặc bốn.

Nếu như mọi người tìm kiếm một trò chơi nhằm rèn luyện sức khỏe thì ô ăn quan không phải là một trò chơi lí tưởng. Tuy nhiên, nếu như mọi người mong muốn một trò chơi để rèn trí tuệ và khả năng điềm tĩnh thì chắc chắn đây là một trò chơi phù hợp. Ô ăn quan rất hữu ích, nó giúp mỗi con người giải trí, xua tan đi những mệt mỏi căng thẳng trong cuộc sống. Không chỉ vậy, trò chơi này còn gắn với tuổi thơ của mỗi đứa trẻ. Cũng từ trò chơi này mà nhiều thành ngữ hay những bài thơ đã ra đời, ô ăn quan còn đi vào trong những bức tranh của nhiều họa sĩ …

Ô ăn quan thực sự là một trò chơi vô cùng thú vị, tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển kéo theo sự du nhập của nhiều trò chơi hiện đại khác đã dần khiến cho trò chơi dân gian không còn được quan tâm là tìm đến một cách phổ biến như trước nữa. Thiết nghĩ, chúng ta nên nhìn nhận lại để phát huy những trò chơi mang tính dân tộc này.

Ô ăn quan cùng với những giá trị văn hóa tốt đẹp của nó sẽ mãi còn trong lòng những người dân Việt chân chính và cũng sẽ còn như là một biểu tượng cho cho đời sống trẻ em làng quê một thời Việt Nam.

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Tập 2 2 Dàn Ý & 2 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất

Qua đó, các em dễ dàng giới thiệu khái quát về cuốn sách, hình thức bề ngoài, bố cục, giới thiệu về nội dung, giá trị của cuốn sách Ngữ văn 8 tập 2 như thế nào, để nhanh chóng hoàn thiện bài văn thuyết minh của mình, ngày càng học tốt môn Văn 8:

Dàn ý thuyết minh về sách Ngữ văn 8 tập 2 Dàn ý 1

1. Mở bài:

Giới thiệu chung về quyển sách giáo khoa.

Nơi xuất bản, do những ai biên soạn.

2. Thân bài:

Miêu tả khái quát về quyển sách giáo khoa từ ngoài vào trong (ví dụ: bên ngoài được trang trí như thế nào màu sắc ra sao in hình gì….).

Chúng ta có thể nói về kích thước hình dáng (VD: chiều cao, bề dày, chiều rộng……).

Sau khi giới thiệu xong từ bên ngoài ta bắt đầu mô tả bên trong sách như:

Sách gồm bao nhiêu trang; được chia thành mấy phần (phần tiếng việt…..)

Mỗi phần lớn lại chia thành bao nhiêu mục nhỏ, nội dung của mỗi mục ra sao…

Ta có thể lấy ví dụ về một hoặc nhiều phần như: Phần tiếng việt: cấu tạo bài gồm những gì, có ghi nhớ không…..

Chúng ta phải giữ gìn bảo quản sách thế nào cho nó khỏi hư (VD: phải bọc sách dán nhãn ….)

Không nên vứt hoặc ném vì có thể làm hỏng sách.

3. Kết bài:

Khẳng định lại ý nghĩa của quyển sách đối với mỗi người học sinh chúng ta.

Vì vậy chúng ta phải coi sách như người bạn thân của mình, phải nâng niu gìn giữ quý trọng vì nó chính là một báu vật mà ai cũng phải cần đến.

Dàn ý 2

1. Mở bài

Giới thiệu và nêu giá trị của sách nói chung với cuộc sống con người.

Giới thiệu về SGK và tình cảm của em với cuốn SGK Ngữ văn 8, tập hai.

2. Thân bài

– Giới thiệu xuất xứ của sách:

SGK Ngữ văn 8, tập một được ra đời từ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

Các tác giả cuốn sách là những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành về văn chương của Việt Nam.

– Thuyết minh, giới thiệu về hình thức bề ngoài của sách:

Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17x24cm rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng.

Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tế quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền.

– Giới thiệu bao quát bố cục của sách:

SGK Ngữ văn 8, tập hai có 17 bài, tương ứng với 17 tuần.

Mỗi bài từ 3 đến 5 bài nhỏ trong đó thường là 2 văn bản, 1 bài Tiếng Việt và 1 bài Tập làm văn.

Quyển sách là sự phát triển kế tiếp SGK lớp 6 và lớp 7.

– Giới thiệu nội dung, giá trị của cuốn sách:

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học thuộc thể loại thơ, văn và kịch của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.

Phần Tiếng Việt gồm cả từ ngữ và ngữ pháp được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn, vừa cung cấp tri thức, vừa giúp học sinh luyện tập.

Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, và về văn nghị luận.

– Nêu cách sử dụng, bảo quản sách:

Để cuốn sách có giá trị sử dụng lâu bền, chúng ta cần giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách.

Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

3. Kết bài

Khẳng định giá trị, ý nghĩa lớn lao của quyển sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2 đối với học sinh.

Thuyết minh về sách Ngữ văn 8 tập 2 – Mẫu 1

Đối với học sinh, sách giáo khoa có vai trò vô cùng quan trọng trong công việc học tập. Một trong số đó là cuốn sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2.

Quyển sách có dạng hình chữ nhật đứng, khá dày và to hơn cuốn tập bình thường một chút. Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học của văn học Việt Nam cũng như văn học nước ngoài. Các tác phẩm văn học Việt Nam thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…). Các tác phẩm văn học nước ngoài như Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Về phần Tiếng Việt sẽ là phần kiến thức về ngữ pháp như các kiểu câu, hành động nói, hội thoại… được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn. Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, học sinh còn được tìm hiểu thêm về văn nghị luận.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 được làm bằng chất liệu giấy mềm mà chúng ta sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn. Vì vậy, học sinh cần có ý thức giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách. Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

Sách Ngữ Văn, tập 2 cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức quan trọng mà ở các lớp dưới vẫn chưa được học. Và không chỉ ở hiện tại mà ngay cả tương lai, quyển sách này vẫn luôn luôn là một người bạn đồng hành bổ ích và đáng tin cậy của học sinh.

Thuyết minh về sách Ngữ văn 8 tập 2 – Mẫu 2

Sách giống như một người bạn trong quá trình học tập của học sinh. Mỗi một cuốn sách đều cung cấp những kiến thức riêng thuộc nhiều lĩnh vực. Và cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 cũng vậy.

Sách Ngữ Văn 8, tập 2 là một trong bộ sách giáo khoa đưa vào giảng dạy chính cho môn Ngữ Văn lớp 8 trong học kỳ hai. Nhà xuất bản Giáo dục phát hành sách dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần qua các năm để thay đổi phù hợp hơn với chương trình học. Sách ra đời có nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn công phu. Đó là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy cô dạn dày kinh nghiệm trên cả nước. Nổi bật trong số đó phải kể đến Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn)… Chế bản do Công Ty Cổ Phần Thiết Kế và Phát Hành Sách Giáo Dục đảm nhận.

Bìa sau của sách có nền trắng đơn giản. Phía trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý của dân tộc và chất lượng sách. Phía dưới in tên các loại sách thuộc các môn học trong chương trình lớp 8 bằng màu đen: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai)…Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…). Góc phải dưới cùng dán tem đảm bảo và giá bán. Góc trái là mã vạch sản phẩm. Cả cuốn sách trang trí đơn giản mà rất sinh động.

Sách Ngữ Văn 8 tập 2 là quyển sách tiếp nối kiến thức lớp 6 và lớp 7 với hệ thống 17 bài, tương ứng với 17 tuần học. Mỗi bài lại có khoảng từ ba đến năm bài nhỏ cung cấp tri thức phong phú, hoàn thiện. Về nội dung, sách có cấu tạo ba phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và làm văn.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam, văn bản văn học nước ngoài. Văn bản văn học Việt Nam gồm các tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…). Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh. Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Các tác phẩm này sẽ giúp học sinh hiểu được một phần về nền văn học nước ngoài.

Advertisement

Nội dung tiếp theo là phần Tiếng Việt. Nội dung tìm hiểu về các kiểu câu, hội thoại, hành động nói, cách lựa chọn trật tự từ trong câu… Những bài học nối tiếp từ lớp 7 có vai trò nâng cao khả năng về ngôn từ, ngữ pháp cho học sinh để vận dụng vào viết văn là giao tiếp hàng ngày. Đồng thời giúp các em hiểu thêm sự giàu đẹp của tiếng Việt và bồi đắp thêm tình yêu tiếng nói dân tộc.

Ở phần làm văn, học sinh được rèn luyện, củng cố một số kĩ năng về văn bản thuyết minh. Chương trình Tập làm văn 8 nâng cao hơn lớp 7 trên nhiều phương diện. Bên cạnh đó, phần làm văn còn tìm hiểu thêm về kỹ năng viết văn nghị luận.

Sách Ngữ văn lớp 8 có vai trò, tác dụng lớn trong quá trình học tập môn ngữ văn của học sinh. Sách giúp học sinh tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ để thấy được giá trị của nghệ thuật. Học văn, tình cảm được bồi đắp, tâm hồn bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn làm dịu đi những áp lực căng thẳng của cuộc sống. Đặc biệt, sách có ý nghĩa giáo dục to lớn, rèn luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. Bồi đắp thêm những tình cảm, đức tính tốt đẹp như yêu thương và cảm thông với con người. Từ đó biết trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của mình hơn.

Sách Ngữ văn 8, tập 2 có là một trong những cuốn sách quan trọng trong quá trình học tập của mỗi học sinh. Vì vậy, mỗi người cần có ý thức giữ gìn cẩn thận.

Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay Nhất ✅ Giới Thiệu Tuyển Tập Văn Đặc Sắc Với Cách Viết Sinh Động Và Giàu Hình Ảnh. 

Chia sẻ đến bạn đọc mẫu Dàn Ý Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 chi tiết sau đây để triển khai bài văn logic nhất.

Mở bài:

Giới thiệu và nêu giá trị của sách nói chung với cuộc sống con người.

Giới thiệu về SGK và tình cảm của em với cuốn SGK Ngữ văn 8, tập một.

Thân bài:

Kết bài: Khẳng định giá trị, ý nghĩa lớn lao của quyển sách đối với học trò.

Xem Thêm Bài 🌹 Tả Quyển Sách Mà Em Yêu Thích ❤️️15 Bài Hay Nhất

Bài Thuyết Minh Về Sách Ngữ Văn 8 Điểm Cao giúp các em có thêm nhiều kiến thức hữu ích về quyển sách này.

Trong cuộc đời của mỗi người, hẳn ai cũng từng biết qua một vài quyển sách, càng bổ ích hơn khi được đọc hoặc nghiên cứu về chúng. Hôm nay, tui xin giới thiệu với các bạn quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một mà tôi đang được học ở trường. Đây là một quyển sách chứa đựng thật nhiều kiến thức về các phần như: Văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn. Tôi sẽ trình bày đôi nét về quyển sách này để các bạn biết rõ hơn về nó.

Quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo, được tái bản lần thứ năm. Để có được một quyển sách với nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Nào là phải chọn lọc rồi biên soạn lại, trình bày bìa và minh họa, chọn size chữ, chọn bản in,…Nhân đây, tôi xin nhắc đến một số người đã góp công trong việc phát hành quyển sách này. Bản quyền thuộc Nhà xuất bản Giáo dục và đào tạo.

Về phần nội dung do Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn), Lê A, Diệp Quang Ban, Hồng Dân,… Chịu trách nhiệm xuất bản do chủ tịch HĐQT kiêm tổng Tổng Giám đốc Ngô Trần Ái và phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nguyễn Quý Thao.

Biên tập lần đầu Kim Chung, Ngọc Khanh, Hiền Trang. Biên tập tái bản Phạm Kim Chung. Trình bày bìa và minh họa là Trần Tiểu Lâm. Nguyễn Thanh Thúy chịu trách nhiệm biên tập kĩ thuật. Sửa bản in do Phòng sửa bản in (NXB Giáo dục). Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục. Sách có mã số 2H811T9 và số đăng ký KHXB: 01-2009/CXB/219 – 1718/GD, được in 70 000 cuốn tại Công ty TNHH MTV XSKT & Dịch vụ In Đà Nẵng. In xong nộp lưu chiểu tháng 02 năm 2009.

Cầm quyển sách trên tay, ta sẽ dễ dàng đọc được dòng chữ “Ngữ Văn 8 – Tập một” in thật to ở bìa sách. Bìa thuộc dạng bìa cứng , có bề mặt nhẵn, được trang trí với màu cam thật đẹp mắt, trên cùng, ở gốc trái có in dòng chữ màu đen: “Bộ Giáo dục và đào tạo” khoảng 2-3 milimet.

Bên dưới dòng chữ ấy là tên sách:”Ngữ Văn” được tô màu xanh dương làm nổi bật trên nền bìa cam có phông chữ khoảng 28 – 30 milimet cùng với số “8” màu trắng có size từ 30 – 35 milimet được in thật to bên dưới, phía bên phải và bên trái số “8” ấy có đế hàng chữ “Tập một”. Thân bìa được trang trí thêm hoa, lá vàng, xanh để tăng thêm phần sinh động.

Phía dưới cùng là hàng chữ “Nhà xuất bản Giáo dục” với hiệu logo màu đỏ. Bìa sách cuối có nền màu trắng, hai bên trái, phải ở trên cùng lần lượt in hình “Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế. Bên dưới là tên các loại sách thuộc các môn học khác nằm trong chương trình lớp 8 được in với màu đen đặc sắc trên một khung nền màu xanh như: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai),…, Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…)

Chúng ta đã được rèn luyện, củng cố nâng cao một số kĩ năng trong quá trình tạo lập văn bản như: xây dựng bố cục, xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn. Chương trình Tập làm văn 8 sẽ được nâng cấp trên một vài phương diện.

Sự kết hợp phương thức biểu đạt tự sự, nghị luận mà chúng ta đã được học qua với phương thức biểu đạt khác như miêu tả, biểu cảm sẽ tạo nhiều điều kiện để ta đọc – hiểu văn bản làm cơ sở để đi vào nghiên cứu phương thức biểu đạt thuyết minh. Đây là kiểu văn bản lần đầu được dạy trong nhà trường ở Việt Nam, tuy không xuất hiện nhiều trong lĩnh vực văn chương nhưng lại hết sức thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống.

Tôi xin sơ lược về một số bài và công dụng của nó. Ở các bài: Bố cục của văn bản, Xây dựng đoạn văn trong văn bản, Liên kết các đoạn văn trong văn bản nhằm giúp ta hiểu thật rành rẽ hơn về kết cấu, cấu tạo của đoạn văn, bài văn và cách sử dụng phương tiện liên kết để có sự mạch lạc, rõ ràng giữa các đoạn văn.

Còn trong ba bài: Tìm hiểu về văn thuyết minh, Phương pháp thuyết minh, Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh được sắp xếp trong chương trình giảng dạy theo độ khó tăng dần, nhằm thúc đẩy ta làm quen và thích nghi nhanh với phương thức biểu đạt mới, luyện tập cho ta có thể mạnh dạng và chủ động hơn trong mọi đề văn thuyết minh dưới hình thức nói hoặc viết.

Như vậy, qua đó ta cũng đã thấy được vô vàn kiến thức bổ ích cần phải tìm hiểu sâu hơn trong quyển sách Ngữ Văn 8 – tập một này. Nó giúp ta tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ từ đó mới thấy được chân giá trị của nghệ thuật, đối với người học văn, nó còn làm cho tâm hồn ta bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn để giảm bớt đi những áp lực nặng nề của cuộc sống.

Hơn nữa, sách còn mang ý nghĩa giáo dục to lớn, tôi luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. “Có đam mê đọc sách mới thấy được những giá trị tiềm tàng của sách”.

Với tôi, sách là người bạn thân thiết, mãi đồng hành cùng tôi trên ghế nhà trường. Và tôi luôn nâng niu, trân trọng từng trang sách, từng bài học, từng lời văn,…vì tôi biết sách luôn kề vai sát cánh bên tôi, bồng bế tôi qua những nẻo đường khúc khuỷu để tiến về đỉnh vinh quang của học vấn.

“Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ” Thật vậy, câu nói này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ và nó vẫn còn mang ý nghĩa tồn tại trong mọi thời đại. Ngọn đèn tri thức chính là sách và ngọn đèn ấy chẳng bao giờ bị dập tắt cho dù nó có đứng trước những thay đổi thất thường của thời tiết.

Ôi ! Quyển sách Ngữ Văn 8 – Tập một chứa đựng biết bao nhiêu là kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Sách như ngọn đèn sáng soi bước đường tôi đi và sách cũng như chiếc chìa khóa vạn năng mở toang các cánh cửa trên con đường học vấn tôi đang lê bước và một sự đóng góp lớn lao trong việc “Trăm năm trồng người”.

Đó chính là công sức to lớn của những thầy, cô giáo luôn tận tụy, hết mình vì học sinh, luôn tìm tòi những cách giảng thật hay, thật dễ hiểu để học sinh chúng tôi có thể tiếp thu dễ dàng những kiến thức bổ ích mà thấy, cô đang truyền đạt. Như vậy, sách cũng như những người thầy, người cô lái đò đưa chúng tôi sang sông cập bến của tương lai tươi sáng.

Chia Sẻ Bài ❤️️ Thuyết Minh Về Đồ Dùng Học Tập ❤️️16 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Đặc Sắc là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em ôn tập cho kì thi thật tốt.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8 hiện nay được các nhà khoa học về giáo dục biên soạn theo hướng tích hợp về kiến thức nhằm mục đích vừa cung cấp cho học sinh những kiến thức kỹ năng mang tính phổ thông, cơ bản mà hiện đại, vừa tránh sự trùng lặp, chồng chéo không cần thiết.

Hai cuốn Ngữ vãn tập 1, 2 tổng hợp toàn bộ kiên thức trong 34 bài học. Nhìn chung mỗi bài học được kết cấu thành ba phần lớn.

Phần Văn bản: Ở phần này, các nhà khoa học đã tuyển chọn các tác phẩm văn học Việt Nam, văn học nước ngoài để biên soạn, giới thiệu cho học sinh xen lẫn một lượng không nhỏ các văn bản có tính nhật dụng – một sự cải cách cần thiết cho tư duy của học sinh. Các văn bản văn học được biên soạn theo các mốc thời gian (có kèm việc đan xen thể loại).

Văn bản được trích trọn vẹn hoặc một phần có kèm chú thích giới thiệu, về tác giả và phong cách cùng một phần đọc hiểu, chủ yếu để giúp học sinh tự chuẩn bị bài trước ở nhà. Các văn bản nhật dụng phong phú và đa dạng cũng được biênisoạn theo cách ở trên. Tuy nhiên, trong 34 bài học, có bài có tới hai văn bản nhưng có bài thì không có văn bản nào. Cũng có bài vãn bản được trích ra nhưng để học sinh tự học mà không được giảng.

Phần Tiếng Việt: Phần này nằm ngay sau phần đọc hiểu hay phần luyện tập của các văn bản. Nội dung của phần tiếng Việt cung cấp những kiến thức cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… và hầu hết đều được trình bày theo hướng từ ví dụ đến ghi nhớ.

Phần Tập làm văn: Là phần quan trọng thứ ba tạo nên bố cục hoàn chỉnh cho mỗi bài học. Trong phần này, học sinh được học lí thuyết và thực hành về các kiểu bài văn như: văn tự sự, văn nghị luận… Cũng ở phần này, học sinh được tham khảo những bài mẫu và có sẵn trước các đề văn đế thực hành cho từng kiểu loại bài.

Giới Thiệu Bài 💦 Thuyết Minh Về Đồ Vật, Đồ Dùng Sinh Hoạt ❤️️ 15 Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Quyển Sách Ngữ Văn 8 Chọn Lọc từ chúng tôi và chia sẻ đến các bạn đọc sau đây.

Trên chặng đường học tập, ngữ văn là môn học không thể thiếu đối với chúng ta. Nó giúp ta phát triển khả năng đọc viết, giao tiếp một cách toàn diện. Và một phần không thể thiếu khi học Ngữ văn chính là Sách giáo khoa (SGK). Nội dung chương trình trong sách giáo khoa các lớp như một mắt xích. Mỗi năm gắn kết chặt chẽ với nhau. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 tập 1 là phần rất quan trọng trong quá trình học Ngữ văn lớp 8.

Quyển SGK Ngữ Văn 8, tập 1 do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sách in xong và nộp lưu chiểu năm 2009. Lần tái bản gần nhất là in cho năm học này. Sách giáo khoa Ngữ Văn 8 – tập 1 là kết quả nghiên cứu của tập thể các giáo sư, tiến sĩ hàng đầu Việt Nam. Công việc được tiến hành dưới sự chỉ đạo và giám sát, kiểm tra của Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam.

Về phần biên soạn nội dung do Nguyễn Khắc Phi làm tổng chủ biên. Phần Văn bản do Nguyễn Hoành Khung chủ biên. Phần Tiếng Việt do Nguyễn Minh Thuyết làm chủ biên. Phần Tập làm văn do Trần Đình Sử làm chủ biên. Về phần bìa sách do Trần Tiểu Lâm thiết kế bìa và trình bày minh họa nội dung. Ban biên tập nội dung gồm Kim Chung, Ngọc Khang, Hiền Trang.

Chịu trách nhiệm xuất bản là tổng giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Ngô Trần Ái và phó tổng giám đốc Nguyễn Quý Thao. Sách được biên soạn và ấn hành từ năm 2009. Nhưng hằng năm quyển sách được chỉnh sửa và tái bản với số lượng lớn để phục vụ nhu cầu học tập và giảng dạy của học sinh và giáo viên trên cả nước.

Cũng như các sách giáo khoa khác, về căn bản, Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 8 – tập 1 bao gồm bìa trước, bìa sau và phần nội dung bên trong. Bìa trước màu nền hồng phấn, nổi bật lên dòng chữ: Ngữ Văn 8 – tập 1 được tô màu xanh dương. Đầu trang bìa là dòng chữ in hoa Bộ giáo dục và Đào tạo. Từ phía góc dưới đến giữa quyển sách là khóm hoa vàng lá màu xanh dương. Với họa tiết đơn giản, gần gũi, tạo nên nét hài hòa thật bắt mắt. Cuối bìa sách là lô gô và tên hiệu của nhà xuất bản.

Bìa sau có nền màu trắng nhạt. Bên dưới là tên các loại sách thuộc các môn học khác nằm trong chương trình lớp 8. Khung chữ được in với màu đen đặc sắc trên một khung nền màu hồng phấn. Dưới cùng, nằm bên gốc phải là tem đảm bảo và giá bán. Ở góc bên trái là mã vạch sản phẩm. Giá bán có thể thay đổ theo từng năm. Thường thì giá bán Sách giáo khoa đã được nhà nước hỗ trợ nên rất rẻ. Toàn bộ quyển sách không tính trang bìa là 176 trang. Bìa sách in trên giấy mền phủ mờ theo khổ giấy là 17 x 24 cm.

Đối với một quyển sách, nội dung bên trong là quan trọng nhất. SGK Ngữ văn lớp 8 – tập 1 có cấu tạo ba phần: Văn bản, Tiếng Việt và làm văn. Ngoài ra còn có phần giới thiệu chương trình và phần lí luận văn học. Phần văn bản gồm các văn bản văn học Việt nam, văn bản văn học nước ngoài, văn bản Nhật dụng.

Văn bản văn học Việt Nam gồm truyện ngắn Tôi đi học (Thanh Tịnh); đoạn trích Trong lòng mẹ (trích “Những ngày thơ ấu” – Nguyên Hồng); truyện ngắn Lão Hạc (trích “Lão Hạc” – Nam Cao); đoạn trích Tức nước vỡ bờ (trích “Tắt đèn” – Ngô Tất Tố); bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (Phan Bội Châu) (Đập đá ở Côn Lôn (Phan Chu Trinh); bài thơ Muốn làm thằng cuội (Tản Đà); bài thơ Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải).

Các văn bản văn học nước ngoài cũng được giới thiệu với một vài tác giả nổi bật của thế giới như truyện ngắn Cô bé bán diêm (Andersen); tiểu thuyết phiêu lưu Đánh nhau với cối xay gió ( trích Đôn-ki-hô-tê – Xecvantec); truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng (O.Henry); truyện ngắn Hai cây phong (trích “Người thầy đầu tiên” – Ai-ma-tốp). Các văn bản văn học là những tác phẩm văn học xuất sắc của Việt Nam và thế giới. Các văn bản văn học Việt Nam là những sáng tác trong giai đoạn trước 1945.

Phần văn bản đảm nhận nhiệm vụ bồi dưỡng và giáo dục tình yêu con người, tình yêu cuộc sống, biết rung động và cảm thông trước những số phận bất hạnh, đáng thương trong cuộc đời. Đồng thời cũng tố cáo những bất công, áp bức trong xã hội, là tiếng thét đời quyền sống, khát vọng sống lương thiện, hạnh phúc của con người.

Phần văn bản nhật dụng với những bài viết đề cập đến các vấn đề nóng bỏng, cấp thiết của thế giới như bài viết Thông tin về ngày trái đất năm 2000; Ôn dịch thuốc lá; Bài toán dân số. Đây là ba vấn đề mà thế giới đang đối mặt với những khó khăn vô cùng to lớn. Ở phần Tiếng Việt, học sinh sẽ được mở mang thêm nhiều kiến thức với những bài học vô cùng bổ ích. Toàn bộ chương trình tiếng việt được biên soạn phù hợp với cấp độ nhận thức của học sinh.

Các bài học về từ ngữ được giới thiệu khá đầy đủ như Cấp độ khái quát của từ ngữ; Trường từ vựng, Từ tượng hình – Từ tượng thanh; Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội; Trợ từ – Thán từ, Tình thái từ. Các phép tu từ tiếp tục chương trình ở lớp 7 như phép Nói quá; phép Nói giảm – Nói tránh.

Về ngữ pháp, học sinh được học các bài về Câu ghép; Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm; Dấu ngoặc kép. Phần Tiếng Việt đảm nhận vai trò củng cố và nâng cao kĩ năng sử dụng từ, kết cấu câu và kết cấu văn bản. Một phần khác giúp các em nhận diện loại từ, giúp các học sinh vận dụng hiệu quả vào việc diễn đạt trong các bài tập làm văn.

Tiếp tục chương trình tập làm văn ở lớp 7, chương trình tập làm văn lớp 8 củng cố và nâng cao kĩ năng viết bài văn miêu tả, bài tập làm văn kể chuyện có yếu tố biểu cảm tạo cơ sở để làm bài văn thuyết minh về đồ vật. Lý thuyết tập làm văn tập trung vào các nội dung như xây dựng bố cục bài văn, xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn,…

Phần này giúp học sinh biết cách viết đoạn văn và liên kết chúng thành một bài văn hoàn chỉnh. Ngoài ra, kiểu bài văn nghị luận về một đạo lí tư tưởng và nghị luận về các hiện tượng trong cuộc sống cũng tiếp tục được rèn luyện. Chủ đề tập trung vào các vấn đề nóng bỏng đang xảy ra trong cuộc sống nhằm giúp học sinh biết quan sát và có cái nhìn thực tế, biết nhận xét, phán đoán, bàn luận và đưa ra những hành động thiết thực, hữu ích.

Trước hết, SGK Ngữ Văn lớp 8 – tập 1 là một công cụ học tập không thể thiếu của học sinh. Đây cũng là một công cụ giảng dạy của giáo viên trong học kì 1 của mỗi năm học. Thông qua quyển sách giáo khoa, giáo viên và học trò gắn kết nhau qua mỗi bài học thực sự ý nghĩa và hữu ích, từng bước nâng cao năng lực cảm thụ văn bản văn học, năng lực sử dụng ngôn ngữ thành thạo và chuẩn xác trong giao tiếp, năng lực viết một bài văn hoàn chỉnh.

Các văn bản văn học đều là những tác phẩm xuất sắc của nền văn học Việt Nam và các nước trên thế giới. Mỗi tác phẩm mở ra một chân trời rộng lớn về thế giới tâm hồn con người, cho ta phát hiện và trân trọng những giá trị ẩn sâu trong con người mà hằng ngày đã bị cuộc sống đời thường che lấp.

Hãy luôn trân trọng sách, quý trọng những gì sách đã mang lại trong đời sống của chúng ta. Dù các năm học sau không còn sử dụng quyển SGK này nữa nhưng những gì chúng ta tiếp thu được từ trong sách mãi mãi là hành trang quý giá theo ta đến suốt cuộc đời.

Xem Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Cái Quạt Giấy, Quạt Nan ❤️️ 15 Bài Văn Hay

Thuyết Minh Về Quyển Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 giúp các em có thể quan sát được cụ thể bố cục bài văn hoàn chỉnh.

Sách Ngữ Văn 8 tập 2 là quyển sách tiếp nối kiến thức lớp 6 và lớp 7 với hệ thống 17 bài, tương ứng với 17 tuần học. Mỗi bài lại có khoảng từ ba đến năm bài nhỏ cung cấp tri thức phong phú, hoàn thiện. Về nội dung, sách có cấu tạo ba phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và làm văn.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam, văn bản văn học nước ngoài. Văn bản văn học Việt Nam gồm các tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…).

Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh. Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Các tác phẩm này sẽ giúp học sinh hiểu được một phần về nền văn học nước ngoài.

Nội dung tiếp theo là phần Tiếng Việt. Nội dung tìm hiểu về các kiểu câu, hội thoại, hành động nói, cách lựa chọn trật tự từ trong câu… Những bài học nối tiếp từ lớp 7 có vai trò nâng cao khả năng về ngôn từ, ngữ pháp cho học sinh để vận dụng vào viết văn là giao tiếp hàng ngày. Đồng thời giúp các em hiểu thêm sự giàu đẹp của tiếng Việt và bồi đắp thêm tình yêu tiếng nói dân tộc.

Ở phần làm văn, học sinh được rèn luyện, củng cố một số kĩ năng về văn bản thuyết minh. Chương trình Tập làm văn 8 nâng cao hơn lớp 7 trên nhiều phương diện. Bên cạnh đó, phần làm văn còn tìm hiểu thêm về kỹ năng viết văn nghị luận.

Sách Ngữ văn lớp 8 có vai trò, tác dụng lớn trong quá trình học tập môn ngữ văn của học sinh. Sách giúp học sinh tiếp cận với những tác phẩm văn học nổi tiếng được truyền qua nhiều thế hệ để thấy được giá trị của nghệ thuật. Học văn, tình cảm được bồi đắp, tâm hồn bay bổng, thanh thản, nhẹ nhàng hơn làm dịu đi những áp lực căng thẳng của cuộc sống.

Đặc biệt, sách có ý nghĩa giáo dục to lớn, rèn luyện cho ta nhiều kiến thức trong việc giao tiếp hàng ngày dù là thể hiện dưới mọi hình thức. Bồi đắp thêm những tình cảm, đức tính tốt đẹp như yêu thương và cảm thông với con người. Từ đó biết trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của mình hơn.

Đọc Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Laptop, Máy Tính Để Bàn ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay

Giới Thiệu Về Quyển Sách Ngữ Văn 8 Tập 1 Ấn Tượng, cùng đón đọc bài văn hay hữu ích sau đây.

Sách là người bạn đồng hành quen thuộc với con người. Trong suốt sự học cả đời của mỗi người, sách chính là trợ thủ đắc lực nhất. Một trong những cuốn sách đến với chúng ta đầu tiên khi còn đi học là sách giáo khoa. Nói về sách giáo khoa, bạn biết gì về sách Ngữ văn 8 tập 1 mà chúng mình vẫn học?

Sách Ngữ Văn 8 – Tập 1 là một trong bộ sách giáo khoa đưa vào giảng dạy chính cho môn Ngữ Văn lớp 8 trong học kỳ một. Nhà xuất bản Giáo dục phát hành sách dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần qua các năm để thay đổi phù hợp hơn với chương trình học. Sách ra đời có nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn công phu.

Đó là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy cô dạn dày kinh nghiệm trên cả nước. Nổi bật trong số đó phải kể đến Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Hoành Khung (Chủ biên phần Văn), Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên phần Tiếng Việt), Trần Đình Sử (Chủ biên phần Tập làm văn)…Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục đảm nhận.

Bao bọc lấy cả cuốn sách là bìa. Bìa trước nổi bật dòng chữ Ngữ Văn 8, tập 1 được tô màu xanh dương trên nền bìa hồng phấn. Với kích thước các chữ cái và màu sắc hài hòa, bìa sách dễ gây ấn tượng, phù hợp với tuổi khám phá mộng mơ của lứa tuổi học trò. Thân bìa được trang trí thêm hoa, lá vàng, xanh đầy sinh động. Đầu trang bìa là dòng chữ: Bộ giáo dục và Đào tạo. Bên phải phía cuối bìa là Logo Nhà xuất bản Giáo dục.

Bìa sau của sách có nền trắng đơn giản. Phía trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miện kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý của dân tộc và chất lượng sách.

Về nội dung, sách có cấu tạo 3 phần gồm Văn bản, Tiếng Việt và làm văn. Ngoài ra còn có phần giới thiệu và phần lí luận văn học.

Phần cơ bản nhất là phần Văn bản, là hệ thống các văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, văn bản văn học nước ngoài, văn bản nhật dụng. Văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 được lựa chọn các tác phẩm “Tôi đi học” (Thanh Tịnh), “Trong lòng mẹ” (trích “Những ngày thơ ấu” – Nguyên Hồng), “Lão Hạc” (trích “Lão Hạc”– Nam Cao), “Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt đèn” – Ngô Tất Tố), “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” (Phan Bội Châu), “Đập đá ở Côn Lôn” (Phan Chu Trinh), “Muốn làm thằng cuội” (Tản Đà), “Hai chữ nước nhà” (Trần Tuấn khải).

Văn học giai đoạn này ra đời giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 nên đó là những câu chuyện về đời sống của nhân dân Việt Nam, khát khao sống và chiến đấu. Mỗi tác phẩm lại có một giá trị riêng, nhưng tổng kết lại nó đều bồi đắp thêm tình yêu thương con người, tình yêu cuộc sống, tinh thần yêu nước cho mỗi học sinh.

Phần văn bản văn học nước ngoài là các tác phẩm xuất sắc của các nhà văn nổi tiếng thế giới, của nền văn học nhân loại như: “Cô bé bán diêm” (Andersen), “Đánh nhau với cối xay gió” (trích Đôn-ki-hô-tê) – Xecvantec, “Chiếc lá cuối cùng” (Trích) – chúng tôi Ri, “Hai cây phong” (trích “Người thầy đầu tiên”) – Ai-ma-tốp. Đó là những câu chuyện được lựa chọn từ những tác phẩm văn học đồ sộ thế giới mang những màu sắc khác nhau của cuộc sống.

Qua nhân vật và câu chuyện của nhân vật, mỗi tác phẩm sẽ gửi gắm một thông điệp riêng, đem đến bài học nhân sinh sâu sắc. Học sinh thấu hiểu, cảm thông và biết trân trọng giá trị con người hơn. Từ đó nghe thấy tiếng nói chung của con người trên khắp thế giới về đấu tranh và bảo vệ quyền sống.

Phần văn bản nhật dụng đề cập đến những vấn đề gần gũi, nóng bỏng trong cuộc sống hiện nay như môi trường, tệ nạn xã hội, dân số. Bao gồm: Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá, Bài toán dân số. Các văn bản được đưa vào sách với mục đích nâng cao nhận thức cho học sinh về các vấn đề đang xảy ra xung quanh, định hướng hành động thực tiễn cho các em.

Nội dung tiếp theo là phần Tiếng Việt. Cấu trúc phần này gồm: Cấp độ khái quát của từ ngữ, Trường từ vựng, Từ tượng hình – Từ tượng thanh, Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội, Trợ từ – Thán từ, Tình thái từ, Chương trình địa phương (Phần Tiếng Việt), Nói quá, Nói giảm – Nói tránh, Câu ghép, Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm, Dấu ngoặc kép, Ôn luyện về dấu câu,…

Ở phần làm văn, học sinh được rèn luyện, củng cố một số kĩ năng tạo lập văn bản như: xây dựng bố cục, xây dựng đoạn văn, liên kết đoạn văn. Chương trình Tập làm văn 8 nâng cao hơn lớp 7 trên nhiều phương diện. Các phương thức biểu đạt được học trước trở thành tiền đề cho phương thức biểu đạt thuyết minh – kỹ năng quan trọng của phần làm văn lớp 8. Thuyết minh không xuất hiện nhiều trong lĩnh vực văn chương nhưng lại hết sức thông dụng trong các lĩnh vực đời sống.

Chính vì thế, nó giúp học sinh hình thành và rèn luyện phương pháp thuyết minh một sự vật, hiện tượng trong cuộc sống theo tri thức khoa học chính xác và khách quan. Bên cạnh đó, phần làm văn còn nâng cao kỹ năng kể chuyện, nghị luận về các tác phẩm văn học. Các em sẽ có khả năng thể hiện tình cảm, cảm xúc tốt hơn qua những câu văn. Từ đó hình thành nền tảng ngôn ngữ và lý luận sắc bén Đây cho các bài văn nghị luận văn học khi lên lớp 9.

“Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ”. Sách Ngữ văn 8 tập 1 cũng là một ngọn đèn soi sáng trí tuệ chúng ta. Hãy bảo quản, giữ gìn sách khi sử dụng để có được hành trang cho chặng đường tiếp thu, chiếm lĩnh tri thức.

SCR.VN Gợi Ý 🌵 Thuyết Minh Về Máy Tính Bỏ Túi ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Thuyết Minh Quyển Sách Ngữ Văn 8 Tập 1 Ngắn Hay được nhiều bàn đọc quan tâm và chia sẻ.

Hôm nay, mẹ đưa em đi mua sách để chuẩn bị cho năm học mới, đi dọc theo những dãy đựng giá sách trải dài theo diện tích của nhà sách, em nhìn thấy rất nhiều những cuốn sách hay và bổ ích. Mỗi cuốn sách lại có những cách trang trí và sắp xếp khác nhau, tạo cảm giác hứng thú cho người mua, người đọc.

Sắp vào năm học mới của lớp 8, em đi chọn những cuốn sách giáo khoa và những cuốn sách nâng cao cho cả năm học. Cuốn sách nào em cũng thích nhưng em thích nhất vẫn là cuốn sách giáo khoa ngữ văn lớp 8 tập 1. Văn là một trong những môn học mà em yêu thích nhất cho nên, cầm cuốn sách trên tay, em cảm thấy mình thật hạnh phúc.

Ngữ văn là một trong những môn học quan trọng nhất đối chúng ta. Đây là môn học sẽ đi theo chúng ta cho tới tận khi chúng ta đã trưởng thành, thậm chí là suốt cả cuộc đời. bởi học văn hóa, học từng lời ăn tiếng nói, học về những tác phẩm văn học đều là những kiến thức thường thức mà chúng ta luôn luôn cần tới và không bao giờ lạc hậu cả.

Hiểu càng nhiều thì những nguồn tri thức mà chúng ta có được cũng càng nhiều. và môn ngữ văn cũng có những tác dụng to lớn giúp chúng ta phát triển khả năng đọc viết và phát triển giao tiếp một cách hoàn thiện nhất.

Cuốn sách giáo khoa ngữ văn là một trong những cuốn sách do nhà Xuất bản giáo dục phát hành dưới sự cho phép của Bộ giáo dục và đào tạo. Nhìn từ bên ngoài, cuốn sách hiện lên nổi bật với dòng chữ” Ngữ văn lớp 8” tập 1 trên nền sách màu hồng nhạt. phía bên trên của cuốn sách là dòng chữ màu đen nho nhỏ “ Bộ giáo dục và đào tạo”.

Giữa cuốn sách có những bông hoa màu vàng, làm cho cuốn sách trở nên bắt mắt và đẹp hơn giữa rất nhiều những cuốn sách khác, giúp chúng ta dễ dàng phân biệt được hơn. Lật lại đằng sau. Ta thấy được những hình ảnh lô gô của nhà xuất bản giáo dục và đào tạo cùng với tem chống hàng giả trên thị trường.

Nội dung của cuốn sách cũng được sắp xếp một cách hết sức hợp lí. Phần đầu của mỗi bài học được tác giả trình bày những nội dung khái quát cũng như những kiến thức mục tiêu đặt ra mà chúng ta cần phải đạt được. tiếp sau đó là văn bản. thể loại văn bản lớp 8 tập 1 là văn bản tự sự và văn bản nhật dụng. văn bản tự sự chúng ta cũng đã được tìm hiểu từ những lớp dưới, nay sẽ được luyện tập thêm và ở mức độ nâng cao hơn, đòi hỏi chúng ta phải có sự học hỏi và tìm hiểu nhiều hơn về tác phẩm.

Văn bản nhật dụng thì được học ít hơn so với văn tự sự thế nhưng những tác phẩm nhật dụng cũng có tác dụng không nhỏ cho việc chúng ta sẽ áp dụng trong cuộc sống.

Phần tiếng việt của cuốn sách, chúng ta tiếp tục được học về những biện pháp tu từ cơ bản và được sử dụng nhiều như nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,… cũng như việc học những từ tượng hình, từ tượng thanh, từ láy,… giúp ích cho việc chúng ta làm văn và hiểu ý nghĩa của những tác phẩm văn học một cách sâu sắc hơn. Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ được ôn tập thêm những kiến thức về từ loại, câu ghép, dấu câu,…Phần tập làm văn chúng ta được học dạng văn thuyết minh.

Đây là một dạng văn mới, em cũng rất mong chờ cho tới lúc được học để có thể áp dụng cho những bài văn của mình được thêm phần phong phú và chất lượng.

Tóm lại, em rất mong chờ cho tới lúc được học những kiến thức của cuốn sách. Học những kiến thức ấy, em không chỉ có những kiến thức mà còn tạo ra những kĩ năng mà bản thân của em sẽ được học và luyện tập. Đây là một trong những cuốn sách hay, nó giúp cho người học có được những kiến thức nền tảng một cách chắc chắn nhất.

Đọc Thêm Bài 🌿 Thuyết Minh Về Cây Bút Chì ❤️️15 Mẫu Về Cái Bút Chì Hay Nhất

Thuyết Minh Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 Tập 1 Chi Tiết với lối diễn đạt bài văn logic và sáng tạo.

Sách giáo khoa Ngữ Văn là 1 vật không thể thiếu của các học sinh, sinh viên từ tiểu học, trung học cho đến đại học. Nó là 1 kho tri thức to lớn góp 1 phần quan trọng trên con đường học vấn của chúng ta.

Quyển sách có dạng hình chữ nhật đứng, khá dày và to hơn cuốn tập bình thường 1 chút. Bìa sách đc làm bằng chất liệu trơn, bóng khá đẹp, phía trên cùng có dòng chữ”Ngữ Văn 8″ lớn, màu xanh dương. Ở giữa là hình 1 giàn hoa đang khoe sắc, dưới cùng có ghi tên của nhà sản xuất. Lật vào bên trong ta sẽ thấy rất nhiều tờ giấy đc xếp chồng lên nhau, phần gáy sách được đóng rất gọn gàng.

Quyển sách Ngữ Văn 8 tập 1 giúp cho chúng ta hiểu được nỗi khổ cực của người dân thời kì phong kiến trước Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 qua các văn bản như “Tức Nước Vỡ Bờ”, “Lão Hạc”. . . ; hiểu được cuộc đời bất hạnh của cô bé bán diêm qua 1 tác phẩm cùng tên của nhà văn An-đéc-xen; đoạn trích “Chiếc Lá Cuối Cùng” của O Hen-ri gợi cho chúng ta lòng cảm thương và sự đồng cảm với những họa sĩ chân chính nước Mỹ, dù nghèo nhưng luôn luôn có 1 tấm lòng yêu thương lẫn nhau, họ là những con người cao cả;. . .

Ngoài ra, sách còn chỉ cho chúng biết về công dụng cũng như cách sử dụng của dấu 2 chấm, dấu ngoặc đơn. . . để áp dụng vào tập làm văn. Vì sách đc làm bằng chất liệu giấy mềm mà chúng ta sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn, vì vậy, sau khi dùng xong chúng ta phải làm cho những chỗ bị quăn góc hay bị nhăn được thẳng trở lại, sau đó để trở lại chỗ đựng sách hay ngăn cặp cẩn thận.

Sách Ngữ Văn 8 cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức quan trọng mà ở các lớp dưới vẫn chưa được học. Và không chỉ ở hiện tại mà ngay cả tương lai, quyển sách này vẫn luôn luôn là 1 người bạn đồng hành bổ ích và đáng tin cậy của học sinh.

Giới Thiệu Bài 🌿Thuyết Minh Về Cây Bút Máy ❤️️15 Mẫu Về Chiếc Bút Mực Hay

Trong hoạt động dạy của giáo viên cũng như hoạt động học của học sinh, không chỉ cần các yếu tố chủ thể như người giáo viên, học sinh mà còn cần đến sự hỗ trợ của rất nhiều các yếu tố khác như: không gian học, các phương tiện hỗ trợ như: bảng, phấn, bàn học, ghế …và một vật dụng không thể thiếu, đảm bảo quá trình dạy và học có thể diễn ra thuận lợi, suôn sẻ và hiệu quả, đó là sách vở.

Sách là phương tiện hữu ích và không thể thiếu đối với mỗi học sinh, bởi không chỉ tiếp thu những tri thức thông qua lời giảng giải của giáo viên mà học sinh còn cần có sách vở để mở rộng tri thức cũng như củng cố những tri thức đã học. Như bao cuốn sách khác, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 1 cũng là một quyển sách vô cùng hữu ích đối với hoạt động học của học sinh.

Sách giáo khoa là cuốn sách do bộ giáo dục và đào tạo biên soạn theo nội dung, chương trình dạy và học của giáo viên và học sinh của các cấp. Theo đó, nội dung trong các cuốn sách giáo khoa phải đảm bảo các tiêu chí sau. Thứ nhất, đó là về tính chính xác, khoa học, nghĩa là những kiến thức, nội dung được đưa vào trong chương trình dạy phải đảm bảo tính chuẩn xác về kiến thức, là những kiến thức đã được các nhà khoa học ở Việt Nam cũng như trên thế giới kiểm chứng về tính chuẩn mực của nó.

Thứ hai, đó chính là tính phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh từng lứa tuổi, bởi lẽ không đảm bảo tính vừa trình độ, kiến thức đưa vào dễ qua hoặc khó quá thì sẽ không mang lại hiệu quả giáo dục cao, học sinh sẽ lơ là hoặc cảm thấy áp lực trong hoạt động học.

Yếu tố thứ ba nữa đó chính là nội dung đưa vào phải chứa đựng kiến thức, cùng với đó là những nội dung mang tính giáo dục cao để học sinh không chỉ biết tiếp thu mà còn biết thực hành, không chỉ học những lí thuyết suông mà còn biết vận dụng vào trong đời sống thực tiễn. Trên cơ sở tiền đề vừa nêu, tôi nhận thấy quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một đảm bảo được đầy đủ những yêu cầu đó, không chỉ về mặt nội dung mà cả về mặt hình thức đều được đảm bảo.

Sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một do nhà xuất bản giáo dục xuất bản, tùy nhu cầu sử dụng của học sinh và giáo viên mà nhà xuất bản sẽ tiến hành những lần xuất bản khác nhau, và thời gian xuất bản, lần xuất bản cũng được ghi chú rõ trong trang cuối của mỗi quyển sách giáo khoa này, chẳng hạn như cuốn sách giáo khoa của tôi được xuất bản lần thứ sáu, vào tháng bảy năm hai ngàn không trăm mười lăm.

Về cơ bản, nội dung cuốn sách giáo khoa ngữ văn đều được giữ nguyên, cả về hình thức cũng vậy. Do đó mà các lần xuất bản khác nhau chỉ khác nhau ở ghi chú thời gian, còn nội dung và hình thức được đảm bảo tuyệt đối. Nếu hy hữu lắm có sự thay đổi thì có lẽ đó là ở chất lượng giấy.

Quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một của tôi có màu sắc sáng hơn so với đứa bạn cùng bàn. Tuy nhiên, về cơ bản thì nội dung vẫn được giữ nguyên. Cuốn sách giáo khoa ngữ văn lớp tám có chiều dài là hai mươi cen ti mét và chiều rộng khoảng mười cen ti mét, độ dày của cuốn sách cũng rất phù hợp, không dày quá mà cũng không mỏng quá. Về cấu tạo hình thức bên ngoài đều rất thuận tiện, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của học sinh cũng như giáo viên.

Ở cuối mỗi cuốn sách giáo khoa lớp tám tập một đều có dán tem của bộ giáo dục và đào tạo, đó chính là sự xác nhận cho học sinh cũng như phụ huynh biết được đó chính là do bộ giáo dục biên soạn, tránh được những trường hợp, các cơ sở in ấn bên ngoài sản xuất lậu, tạo ra những quyển sách không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Giá của cuốn sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một cũng được in rõ ở ngay cuối của bìa sách, ở dìa ngoài cùng của bên tay phải. Và giá của cuốn sách này là mười hai nghìn năm trăm đồng. Quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám này cũng như bao quyển sách giáo khoa khác vì được bộ giáo dục hỗ trợ giá nên giá trị của nó rất vừa phải, ai cũng có thể mua để sử dụng.

Đấy là về mặt hình thức, còn về mặt nội dung của quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám cũng rất phù hợp đối với trình độ của học sinh, quyển sách này bao gồm các đơn vị kiến thức mới, ví dụ như phần tập làm văn sẽ có các bài văn về nghị luận xã hội, thuyết minh về một vật hay về một sự kiện, địa danh nào đó. Về phần văn thì có các văn bản chức năng thuộc các thể loại như chiếu, cáo, biểu. Ví dụ như các văn bản: Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi…

Quyển sách giáo khoa ngữ văn lớp tám tập một không chỉ được đảm bảo về hình thức bên ngoài mà ngay những nội dung được đưa vào cũng đảm bảo tính mới mẻ, kiến thức, nội dung đảm bảo tính vừa sức, chuẩn mực. cũng vì vậy mà học sinh lớp tám sẽ được học những đơn vị kiến thức của môn ngữ văn lớp tám đầy bổ ích.

Đọc Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Chiếc Bút Bi Lớp 8 ❤️️15 Mẫu Về Cây Bút Bi Hay

Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Tập 1 Điểm 10 để lại nhiều ấn tượng cho các bạn với cách diễn đạt văn hay, cách dùng từ ngữ sáng tạo.

Một trong những hành trang không thể thiếu cho quá trình học tập của người học sinh đó chính là những quyển sách giáo khoa. Sách giáo khoa là sản phẩm của tri thức, được ra đời nhằm hỗ trợ việc học, cung cấp kiến thức cho người học. Sách được biên soạn vào mục đích giảng dạy tại trường học, thể hiện nội dung cụ thể của chương trình phổ thông. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 là một trong những quyển nằm trong bộ sách giáo khoa dành cho môn Ngữ văn.

Tất cả sách giáo khoa đều là sự cụ thể hóa của chương trình học, để xuất bản ra một quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 sẽ phải có một hội đồng biên soạn chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập với nhiều giáo sư chuyên ngành Ngữ văn. Sau khi biên soạn chương trình phải trải qua quá trình thẩm định và kiểm tra kỹ lưỡng trước khi thông qua và đem vào giảng dạy thử nghiệm.

Trải qua thử nghiệm Nhà xuất bản Giáo dục sẽ là đơn vị chuyên trách in ấn và phát hành sách sử dụng đại trà. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 có hình chữ nhật đứng độ dày khoảng 1cm với kích thước 17cm x 24cm gồm tất cả 167 trang.

Sách nổi bật với bìa trước màu hồng phấn và khóm hoa màu xanh vàng in trên bìa, trên đầu sách là tên “Bộ Giáo dục và Đào tạo”, tên sách “Ngữ văn” màu tím than được viết to, số 8 màu trắng và góc dưới bên phải bìa là logo và tên “Nhà xuất bản giáo dục”. Bìa sau của sách có hình Huân chương Hồ Chí Minh, logo của bộ giáo dục và bảng danh sách các quyển sách giáo khoa trong chương trình lớp 8.

Giấy in sách có màu hơi sậm chống lóa và mỏi mắt cho học sinh, chữ hoàn toàn là màu đen chỉ khác nhau về kích cỡ chữ ở các đề mục, mọi câu chữ đều chính xác và chuẩn chỉ đến từng dấu chấm, dấu phẩy. Nội dung trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 là một kho tàng văn học khá phong phú bao gồm ba phần lớn đó là văn bản, tiếng Việt và tập làm văn.

Phần văn bản sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức văn học qua các tác phẩm văn xuôi, truyện, thơ của cả Việt Nam và nước ngoài ví dụ như truyện ngắn “Cô bé bán diêm”, bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”, văn bản nhật dụng “Bài toán dân số”. Phần tiếng Việt giống như phần ứng dụng và thực hành luôn trong bài học về các loại câu, dấu, từ, ví dụ như bài “Từ tượng hình, từ tượng thanh”, “Nói quá”, “Câu ghép”, “Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm”.

Sách giáo khoa nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1 nói riêng là công cụ học tập quan trọng, cần thiết của mỗi người học sinh chúng ta, chính vì vậy mọi người phải có ý thức sử dụng đúng mục đích, tự giác giữ gìn cẩn thận không để dính nước làm rách nát, quăn mép, nên bọc vở bằng báo hoặc bìa cứng để sau khi học xong còn để lại làm tư liệu hoặc cho các em lớp sau.

SCR.VN Gợi Ý 🌹 Thuyết Minh Về Cái Kéo Lớp 9 ❤️️15 Bài Mẫu Về Cây Kéo Hay

Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8 Tập 1 Đơn Giản nhất được chia sẻ sau đây.

Sách Ngữ văn 8, tập một gồm 17 bài học. Mỗi bài thường gồm có ba phần: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn. Tuy nhiên không phải bài nào cũng có đủ ba phần, có bài chỉ có hai phần, có bài lại thêm cả phần Ôn tập và Kiểm tra. Trong đó, mỗi phần lại có cách trình bày phù hợp với đặc điểm riêng: Phần Văn, thưòng có các mục: văn bản, chú thích, đọc – hiểu văn bản, ghi nhớ, luyện tập. Phần Tiếng Việt, thường có các mục: bài tập hướng dẫn, ghi nhớ, luyện tập. Phần Tập làm văn thường có các mục: bài tập hướng dẫn, ghi nhớ, luyện tập.

Sách giáo khoa ngữ văn lớp 8 tập 1 cũng như bao loại quyển vở khác đều có bìa bên ngoài để bảo vệ những trang giấy bên trong quyển sách được trang trí bằng những hình ảnh đẹp, Mặt bìa bên ngoài trang đầu có màu hồng giống như màu lòng tôm. Phía trên bìa là hàng chữ đầu tiên viết bằng chữ in hoa ” BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO”.

Tiếp đến là hai chữ ” ngữ văn” được viết bằng chữ in với những nét viết mềm mại, uyển chuyển được tô bằng màu xanh đậm. Dưới hai chữ đó là chữ” TẬP MỘT” được viết bằng chữ in nhưng nét chữ nhỏ, thanh màu hồng đậm để phân biệt tập một với tập hai.Phía góc bên phải dưới dòng chữ “Ngữ văn” là số “8” to, màn trắng làm nổi bật cả trang bìa.

Trên bìa được trang trí bằng một khóm hoa có những bông hoa màu vàng tươi đang nở rộ gồm sáu cánh hoa mỏng, mềm, xen kẽ trong những chiếc lá dài màu xanh dương. Phía dưới của trang là lô gô của bộ giáo dục ” NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM”. Bài ở cuối sách cũng được ghi viết, bên trái của bìa là huân chương Hồ Chí Minh thể hiện niềm tự hào của dân tộc. Góc phải là một lô gô của bộ giáo dục có hình ngôi sao trên quyển vở, trong trang ghi năm lăm năm như để khẳng định bề dày lịch sử của sách.

Tiếp dưới là phần giới thiệu toàn bộ sách giáo khoa lớp tám được viết ở trung tâm bìa trong khung màu xanh nhạt hình chữ nhật. Cuối bìa là tem dán để nói lên chất lượng uy tín của sách và có giá tiền của sách. Trong giấy của sách được in theo khổ 17x24cm.

Không kém gì về mặt hình thức, sách giáo khoa ngữ văn lớp tám có phần nội dung rất đa dạng và phong phú, quyển sách gồm 17 bài, mỗi bài gồm ba phân môn: văn bản, tiếng việt, tập làm văn. Về phần văn bản cung cấp dữ liệu của phần văn bản truyện thơ,… Sau văn bản là phần chú thích về tác giả, tác phẩm, có phần chú thích giải nghĩa cho các từ khó hiểu trong bài.

Sau phần chú thích là đọc hiểu văn bản, muốn học tốt được văn bản thì học sinh cần phải soạn bài, trả lời câu hỏi trong phần này trước ở nhà, chốt lại kiến thức trong văn bản ghi lại trong khung ghi nhớ. Để ứng dụng, thực hành luôn bài học của phần luyện tập để học sinh củng cố lại kiến thức.

Nội dung của văn bản nhằm cung cấp cho tuổi học trò về văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Trong quyển có dòng tác phẩm văn học hiện thực phê phán với những tác phẩm cùng tên tuổi của các nhà văn nổi tiếng được chọn lọc như nhà văn Nam Cao với chuyện hắn ” lão Hạc”, Ngô Tất Tố với tác phẩm ” tắt đèn” trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” .

Học sinh không chỉ biết đến những tác phẩm văn học trong nước mà còn biết đến những văn học nước ngoài như văn học ở Mĩ, Tây Ban Nha, Đan Mạch… ngoài ra còn một số tác phẩm thơ, văn bản nhật dụng. Về phần tiếng việt cung cấp cho học sinh kiến thức về các loại câu, loại từ và các dấu câu. Phần tập làm văn cũng theo cấu trúc như phần tiếng việt văn bản nhằm cung cấp kiến thức về văn tự sự và kiểu văn bản thuyết minh để củng cố các phương pháp viết văn, giúp nâng cao giao tiếp hàng ngày.

Sách ngữ văn lớp 8 tập một cung cấp cho ta tri thức, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng giao tiếp của mỗi học trò. Nó rất quan trọng, gần gũi với mỗi lứa tuổi học sinh lớp 8. Vì vậy cần bảo vệ, giữ gìn, nâng niu và yêu quý sách.

Tham Khảo Bài 💧 Thuyết Minh Về Chiếc Cặp Sách ❤️️ 15 Bài Mẫu Về Cái Cặp Hay

Thuyết Minh Về Cuốn Sách Ngữ Văn 8 Tập 2 Chọn Lọc từ chúng tôi và chia sẻ đến các bạn đọc quan tâm sau đây.

Đối với học sinh, sách giáo khoa có vai trò vô cùng quan trọng trong công việc học tập. Một trong số đó là cuốn sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 2.

Quyển sách có dạng hình chữ nhật đứng, khá dày và to hơn cuốn tập bình thường một chút. Bìa một của cuốn sách có tông màu tím. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in hoa trang trọng. Phía dưới là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh dương. Dưới chữ “văn” là dòng chữ “tập hai” in hoa màu đỏ. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu xanh xinh xắn.

Cuốn sách gồm một trăm năm mươi chín trang, phần gáy sách được đóng rất gọn gàng. Các trang sách được in bằng loại giấy mỏng, màu hơi ngà tỏa ra một mùi thơm ngây ngây.

Ở phần Văn bản, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học của văn học Việt Nam cũng như văn học nước ngoài. Các tác phẩm văn học Việt Nam thuộc nhiều thể loại: thơ (Nhớ rừng, Quê hương, Tức cảnh Pác Bó…), văn xuôi (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Thuế máu…).

Các tác phẩm văn học nước ngoài như Đi bộ ngao du (Ru-xô, Pháp), Ông giuốc đanh mặc lễ phục (thể loại kịch, Mô-li-e, Pháp)… Về phần Tiếng Việt sẽ là phần kiến thức về ngữ pháp như các kiểu câu, hành động nói, hội thoại… được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn. Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục tìm hiểu về văn thuyết minh, học sinh còn được tìm hiểu thêm về văn nghị luận.

Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 2 được làm bằng chất liệu giấy mềm mà chúng ta sử dụng cũng rất thường xuyên nên rất dễ bị quăn góc và có nếp nhăn. Vì vậy, học sinh cần có ý thức giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gấp đôi cuốn sách. Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuốn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn.

Sách Ngữ Văn, tập 2 cung cấp cho chúng ta nhiều kiến thức quan trọng mà ở các lớp dưới vẫn chưa được học. Và không chỉ ở hiện tại mà ngay cả tương lai, quyển sách này vẫn luôn luôn là một người bạn đồng hành bổ ích và đáng tin cậy của học sinh.

Đọc Thêm Bài 🌵 Tả Một Đồ Dùng Học Tập Mà Em Yêu Thích ❤️️ 15 Bài Hay

Thuyết Minh Về Quyển Sách Mà Em Biết Ngắn, cùng tham khảo bài văn giới thiệu khái quát về quyển sách Ngữ Văn 8 sau đây.

Nguồn gốc của sách giáo khoa ngữ văn lớp 8: nhà xuất bản giáo dục đều do các tiến sĩ, giáo sư đầu ngành của bộ môn ngữ văn biên soạn.

Quyển sách có bìa bên ngoài màu lòng tôm( hồng), trên cuốn sách có chữ in hoa ” BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO”. Tiếp đến là chữ ” Ngữ văn” được viết bằng chữ in hoa to mềm mại màu xanh dương. Dưới hai chữ đó là số 8 màu vàng làm nổi bật trang bìa. Trên bìa trang trí một khóm hoa màu vàng với những chiếc lá… dưới bìa sách là lô gô của Bộ giáo dục. Trang sau cuốn sách là bìa, bên trái bìa là huân chương Hồ Chí Minh niềm tự hào của dân tộc, góc phải của lô gô của bộ giáo dục màu đỏ.

Tiếp dưới là phần giới thiệu toàn bộ sách giáo khoa lớp 8 được viết trong khung Hồ Chí Minh xanh, dưới cùng là tem với giá tiền.

Chia Sẻ Bài 🌵 Tả Đồ Dùng Học Tập ❤️️ 15 Bài Văn Miêu Tả Hay Nhất

Thuyết Minh Về Quyển Sách Giáo Khoa Lớp 8 Chi Tiết giúp các em có thêm nhiều thông tin hay để làm văn tốt nhất.

Phần Tiếng Việt tập trung chủ yếu và nghĩa của từ, từ loại và cấu trúc ngữ pháp của câu, các biện pháp tu từ. Đối với phần tập làm văn nội dung trọng yếu ở phần tạo lập các văn bản thuyết minh, cách áp dụng các phương pháp thuyết minh khi viết. Cách trình bày sách khoa học theo các đề mục lý thuyết, ghi nhớ, luyện tập thực hành giúp người sử dụng (giáo viên, học sinh) có thể dễ dàng xâu chuỗi kiến thức.

Đọc Thêm Bài 💦Thuyết Minh Về Chiếc Xe Đạp ❤️️15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Sách Giáo Khoa Lớp 8 Tập 1 Ngắn Nhất gọn súc tích thể hiện qua từng câu văn, hình ảnh gợi tả chân thực và sinh động.

Không như các đồ vật khác, quyển sách Ngữ Văn 8, Tập 1 do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành hàng năm dưới sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sách được tái bản nhiều lần mỗi năm. Sách được sử dụng để giảng dạy và học tập trong học kì 1, lớp 8. Trong lịch sử, sách Ngữ văn lớp 8, tập 1 được biên soạn nhiều lần, có bổ sung sửa đổi cho phù hợp với từng thời đại. (Thuyết minh sách giáo khoa Sách Ngữ Văn)

Để có được một quyển sách với nội dung hoàn chỉnh phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu. Quyển sách ra đời là kết quả nghiên cứu mệt mài của rất nhiều giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong chuyên ngành và sự góp sức của các thầy giáo có kinh nghiệm trong cả nước. Chế bản do Công ty cổ phần thiết kế và phát hành sách giáo dục đảm nhận.

Đặc điểm hình thức quyển Ngữ văn lớp 8, tập 1:

Bìa trước là dòng chữ: Ngữ Văn 8, tập 1. Chữ được tô màu xanh dương làm nổi bật trên nền bìa hồng phấn. Sự lựa chọn màu sắc tinh tế. Đây là màu yêu thích của các học sinh đang ở lứa tuổi thích khám phá, giàu mơ mộng.

Từ phía góc dưới đến giữa quyển sách là khóm hoa vàng lá màu xanh dương tạo nên nét hài hòa thật bắt mắt. Đầu trang bìa là dòng chữ: Bộ giáo dục và Đào tạo. Logo Nhà xuất bản Giáo dục đặt ở phía bên phải cuối bìa. Thật tinh tế khi các nhà thiết kế chọn màu hồng phấn làm nền cho bìa. Nó rất phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 8 đang độ mộng mơ, hồn nhiên và vô cùng nhạy cảm với thế giới xung quanh.

Bìa sau của sách có nền màu trắng. Hai bên trái, phải ở trên cùng lần lượt in hình Huân chương Hồ Chí Minh và Vương miệng kim cương chất lượng quốc tế, biểu tượng cho tinh thần cao quý và chất lượng của quyển sách. Bên dưới là tên các loại sách thuộc các môn học khác nằm trong chương trình lớp 8 được in với màu đen đặc sắc trên một khung nền màu hồng phấn như: Ngữ Văn 8 (tập một, tập hai), Lịch sử 8, Địa lí 8, Giáo dục công dân 8, Âm nhạc và Mĩ thuật 8, Toán 8 (tập một, tập hai),…, Tiếng nước ngoài (Tiếng Anh 8, Tiếng Nga 8…).

Dưới cùng, nằm bên gốc phải là tem đảm bảo và giá bán. Góc bên trái là mã vạch sản phẩm để kiểm định sản phẩm. Hình thức trang bìa trang nhã, bố cục cân xứng, hài hòa, màu sắc bắt mắt chính là điểm nhấn nổi bậc của quyển sách này. Quyển sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8, tập 1 thật sự phù hợp với học sinh lớp 8.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Văn Mẫu Lớp 9: Dàn Ý Thuyết Minh Về Cây Lúa (3 Mẫu) Lập Dàn Ý Bài Viết Số 1 Lớp 9 Đề 1

I). Mở bài:

Từ bao đời nay, cây lúa đã gắn bó và là một phần không thể thiếu của con người Việt Nam

Cây lúa đồng thời cũng trở thành tên gọi của một nền văn minh – nền văn minh lúa nước.

II) Thân bài:

1. Khái quát:

Cây lúa là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc.

Là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói chung và của Châu Á nói riêng.

2. Chi tiết:

a. Đặc điểm, hình dạng, kích thước:

Lúa là cây có một lá mầm, rễ chùm.

Lá bao quanh thân, có phiến dài và mỏng.

Có 2 vụ lúa: Chiêm, mùa.

b. Cách trồng lúa: Phải trải qua nhiều giai đoạn:

Từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ.

Rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng

Ruộng phải cày bừa, làm đất, bón phân.

Ruộng phải sâm sấp nước.

Khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi phải làm có, bón phân, diệt sâu bọ.

Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo…

c. Vai trò của cây lúa và hạt gạo:

Vấn đề chính của trồng cây lúa là cho hạt lúa, hạt gạo.

Có nhiều loại gạo: Gạo tẻ, gạo nếp (dùng làm bánh chưng, bánh dày)…

* Gạo nếp dùng làm bánh chưng, bánh dày hay đồ các loại xôi.

* Lúa nếp non dùng để làm cốm.

– Lúa gạo làm được rất nhiều các loại bánh như: Bánh đa, bánh đúc, bánh giò, bánh tẻ, bánh phở, cháo,…

Nếu không có cây lúa thì rất khó khăn trong việc tạo nên nền văn hóa ẩm thực độc đáo của Việt Nam.

d. Tác dụng:

Ngày nay, nước ta đã lai tạo được hơn 30 giống lúa được công nhận là giống lúa quốc gia.

Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan về sản xuất gạo.

Cây lúa đã đi vào thơ ca nhạc họa và đời sống tâm hồn của người Việt Nam

III) Kết bài:

Cây lúa vô cùng quan trọng đối với đời sống người Việt

Cây lúa không chỉ mang lại đời sống no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào hình ảnh cây lúa.

Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của mình.

2. Thân bài

a. Nguồn gốc của cây lúa

Cây lúa có mặt ở Việt Nam và trên thế giới từ bao giờ vẫn còn là một câu hỏi lớn. Không ai biết được chính xác, cụ thể thời gian và không gian. Nhiều giả thiết cho rằng chúng xuất hiện cùng với những ngày đầu con người biết đến trồng trọt.

b. Khái quát về cây lúa

Lúa là một trong số cây lương thực chính của Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung. Trên chặng hành trình trải dài từ miền Bắc vào đến trong Nam, không có nơi đâu là thiếu vắng hình ảnh những cánh đồng lúa mênh mông trải dài vô tận.

Việt nam là một nước xuất khẩu gạo và có một ngành nông nghiệp trồng lúa từ xa xưa, trên hầu hết cánh đồng lúa rải khắp các vùng đất từ Bắc vào Nam.

Cây lúa thuộc loại cây rễ chùm, ưa nước. Cây lúa phát triển qua từng thời kì khác nhau, trải qua quá trình chăm sóc, tưới tiêu vất vả, cần mẫn của người nông dân mới cho những bông lúa uốn câu vàng óng.

Cây lúa luôn mang trên mình mùi hương rất đặc biệt. Hạt lúa khi chín được bọc bên ngoài là lớp vỏ trấu màu vàng, bên trong là hạt gạo tròn, chắc mẩy, hương lúa lúc nào cũng có mùi thơm ngát, rất ngậy.

c. Phân loại

Có nhiều loại lúa khác nhau, phù hợp với từng vùng miền, khí hậu riêng. Các loại thóc thường phổ biến là thóc nếp, thóc BC, thóc Việt Hương, thóc Tạp Giao, thóc Tám…

Mỗi loài có những cách chăm sóc khác nhau nhưng đều rất hữu ích và là một nguồn lương thực không thể thiếu với người nông dân.

d. Biểu tượng lúa nước

Giữ một vị trí quan trọng như vậy nên khi nhắc tới Việt Nam, người ta nhắc tới một nền văn minh lúa nước. Cây lúa đã đi vào lịch sử dân tộc của Việt Nam, trở thành một đặc trưng cho văn hoá Việt.

3. Kết bài

Khái quát lại vẻ đẹp, hình ảnh cây lúa.

1. Mở bài

Gắn liền với hình ảnh làng quê Việt Nam là hình ảnh đồng lúa bao la, trải dài bát ngát.

Cây lúa mang lại nhiều giá trị tốt đẹp.

2. Thân bài:

2.1. Nguồn gốc

Xuất phát từ cây lúa dại và được người dân đưa vào trồng trọt khoảng hơn vạn năm trước.

Trong dân gian lưu truyền cây lúa được phát hiện bởi một đôi vợ chồng do nạn đói phải di cư vào rừng và vô tình phát hiện ra hạt giống lúa nhờ săn bắt chim rừng.

2.2. Chủng loại

Lúa tại Việt Nam có hai loại chính: lúa nếp và lúa tẻ.

Lúa nếp: lúa có hạt thóc ngắn thuôn dài hơn lúa tẻ, thường dùng để nấu xôi, rượu, bánh chưng,…

Lúa tẻ: lúa có hạt thóc khá nhỏ, dùng làm lương thực chính trong các bữa ăn

2.3. Đặc điểm

Lúa là cây thân cỏ, có thể đạt tới chiều cao tối đa khoảng 2m

Rễ chùm, dài tối đa lên tới 2 hoặc 3 km

Màu lá thay đổi theo từng giai đoạn phát triển, lá dẹp, dài

Hoa lúa: màu trắng, có nhụy và nhị hoa nên có thể tự thụ phấn thành các hạt thóc nhỏ

2.4. Quá trình phát triển

Người nông dân gieo mạ vào khoảng đầu xuân, gần tết.

Trước khi trồng tại ruộng thì mạ được gieo ở một khu đất riêng, mạ được ủ tại đó khoảng 3, 4 tuần để phát triển thành cây con.

Người nông dân nhổ mạ và bắt đầu cấy lúa tại ruộng.

Từ mạ thành cây con được gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng

Thời kỳ tiếp theo là thời kỳ sinh trưởng sinh thực: mạ ra hoa trắng, hoa lúa trổ bông tạo thành các hạt thóc được bao bọc một lớp vỏ xanh bên ngoài.

Advertisement

Thời kỳ lúa chính là khi những hạt lúa xanh dần chuyển màu vàng nhạt, cây trĩu xuống, lá đầy ngọn ngả dần về màu vàng.

2.5. Giá trị

– Giá trị sử dụng

Lúa là lương thực của người dân, là thành phần của nhiều thực phẩm, món ăn hàng ngày như bún, phở, bột mỳ, bột nếp,….

Là nguồn lợi nhuận của người trồng thương mại hóa

– Giá trị tinh thần

Gắn bó hơn vạn năm với người dân Việt Nam

Việt Nam xếp thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới

3. Kết bài

Tương lai của cây lúa

Lúa chiếm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân

Dù qua nhiều thập kỷ nhưng vị trí cây lúa không hề thay đổi

Cập nhật thông tin chi tiết về 8 Dàn Ý Bài Văn Thuyết Minh Về Kính Đeo Mắt Chi Tiết Nhất trên website Ppvf.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!